Liên hệ quảng cáo: anh Nguyễn Long Khánh (mobile: 0907 707 171 - nick: nlkhanh - email: longkhanh1963@gmail.com)
Cach tri nam da mat hiệu quả | Kem chong lao hoa da nhanh nhất | Nhận giúp việc nhà theo giờ giá rẻ | Trẻ đi ngoài nên ăn gì? | Thuc an giau chat xo tự nhiên | Dịch vụ lau kính tòa nhà cao tầng | Trị trẻ biếng ăn, kén ăn | Cách trị trẻ biếng ăn hiệu quả | Cách Chăm sóc da sau đi biển về | Mẹo Phân biệt sởi và sốt phát ban thế nào | Khử mùi hôi vùng kín nhanh | Thuc pham tot cho ba bau nên ăn | Axit folic cho bà bầu | Bà bầu nên ăn gì tốt nhất | Bổ sung canxi cho bà bầu đầy đủ | Chuyển nhà sinh viên giá rẻ | Chuyen nha Ha Noi uy tín | học bằng lái xe ô tô giá rẻ | mua phế liệu sắt vụn nhôm đồng | chup anh cuoi giá rẻ | Quần áo bảo hộ lao động | Xưởng in tem nhãn giá rẻ tại Hà Nội |

Quan sát cận cảnh trong hồ kiếng (Willem Heijns)

Thảo luận trong 'Bài viết tuyển chọn - cá cichlid' bắt đầu bởi vnreddevil, 11/12/06.

  1. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Quan sát cận cảnh trong hồ kiếng (Willem Heijns)
    [​IMG]
    Hồ 1 trong cichlidarium của tác giả có chiều dài 4 mét với những con cichlid tuyệt đẹp đến từ những hồ núi lửa ở Nicaragua.

    Trong bài viết gần đây tôi đã mô tả về một số kinh nghiệm lặn của mình ở Nicaragua vào năm 2002. Những hồ núi lửa ở Nicaragua có rất nhiều thứ để xem, đặc biệt là cichlid. Hầu hết những gì tôi thấy đều được ghi hình và đem về nhà. Nhưng không chỉ hình ảnh, một bộ sưu tập gần như đầy đủ các loài cichlid ở hồ Xilóa cũng được đem về cichlidarium* của tôi ở Stiphout**.

    Cichlidarium là gì?
    “Nếu xe hơi có thể chạy ngoài trời thì nó cũng có thể đậu ở ngoài trời”. Theo nguyên tắc này, tôi biến phần lớn nhà để xe của mình thành phòng nuôi cá ngay lập tức sau khi chúng tôi chuyển đến sống ở Stiphout (cách nay 15 năm). Mười cái hồ lớn chứa bộ sưu tập cichlid của tôi, chủ yếu là cichlid đến từ Mexico, Belize và nay là Nicaragua. Nhưng đôi khi tôi vẫn cảm thấy cần phải mở rộng thêm. Những hồ cá của tôi quá nhỏ. Bạn không thể nuôi loài Parachromis dovii (kích thước tối đa 50 cm) trong một hồ xấp xỉ 1 mét thậm chí là 2 mét. Nếu bạn cố nuôi thì cứ mãi gặp phải vấn đề ngăn hồ và những điều tương tự. Tôi cảm thấy như vậy là quá đủ rồi.

    Do đó, việc mở rộng là cần thiết. Tôi quan tâm nhiều đến kích thước từng hồ hơn là số lượng hồ. Tất cả những hồ cũ bị bỏ đi và năm hồ mới được bố trí trong “cichlidarium”. Kích thước của chúng như sau: 4 m x 70 cm x 80 cm (hai hồ), 3 m x 60 cm x 70 cm, 2 m x 60 cm x 70 cm, 1 m x 60 cm x 70 cm. Để dễ tưởng tượng, tổng dung tích là 7000 lít.

    Câu hỏi đầu tiên đó là nên nuôi loài nào trong hồ nào. Tôi có nhiều dạng cá citrinellus và không muốn tách chúng ra chỗ khác***. Sau đó tôi lại có thêm vài loài đến từ hồ Apoyo. Tất cả nên được nuôi chung trong một hồ. Sau đó mới sắp xếp đến loài khác.

    Có vài loài mà tôi không biết gọi chúng là gì nhưng đó lại là một câu chuyện khác. Điều mà tôi cố gắng làm là nuôi một nhóm cá thể cùng loài với nhau. Đã lâu tôi không áp dụng nguyên tắc cũ đó là nuôi cichlid Trung Mỹ theo từng cặp, nhưng hiện tại tôi có những hồ thật lớn và tôi muốn tìm hiểu xem điều gì sẽ xảy ra với một nhóm cá thể trong một không gian nhất định. Và tôi đã tìm ra…


    Cichlidarium

    Hồ 1 (4 m)
    Một nhóm khoảng 10 con Amarillo chưa trưởng thành
    4 con Amphilophus sagittae (3 đực, 1 cái)
    15 con Parachromis dovii non

    Hồ 2 (4 m)
    3 con Amphilophus zaliosus
    5 con Parachromis managuensis
    10 con Archocentrus centratrus
    Khoảng 10 con Amphilophus sp. “Chancho”

    Hồ 3 (2 m)
    12 con Amphilophus xiloaensis
    5 con Hypsophrys nicaraguensis
    10 con Neetroplus nematopus

    Hồ 4 (1 m)
    10 con Cryptoheros nigrofasciatus
    Bước đầu
    Hầu hết cá đều chưa trưởng thành khi được nuôi trong cichlidarium mới. Vì vậy chúng có rất nhiều không gian. Không hề có dấu hiệu hung dữ hay những điều tương tự. Với tôi đây là bằng chứng cho phát biểu của tôi rằng cichlid sẽ không gây rắc rối nếu hồ lớn hơn khoảng cách mà tôi gọi là “phạm vi truy đuổi hay phạm vi đào thoát”. Khoảng cách đó có đường kính từ 2 đến 2.5 mét. Nếu con cá bị săn đuổi chạy ra khỏi phạm vi này, sự truy đuổi sẽ kết thúc. Nếu hồ được bố trí với nhiều địa hình trú ẩn thích hợp thì bạn có thể thả cá mới vào mà không phải lo lắng gì cả.

    Thật ngạc nhiên là cá của tôi không hề lớn nhanh. Có lẽ tôi cho chúng ăn quá ít. Ưu điểm của việc này đó là cá của tôi không bao giờ “có nọng”. Có lẽ tôi phải chờ đợi lâu hơn nhưng cuối cùng chúng cũng đạt đến kích thước thích hợp.

    Hành vi nhóm
    Quan sát hành vi của cichlid trong hồ thật lớn hết sức thú vị. Ở hồ 2, loài Amphilophus sagittae chiếm ưu thế hơn so với loài Amphilophus amarillo. Ba con sagittae chia xẻ hồ với nhau (một con bắt cặp với một con cá cái ngay sau đó) và tất cả amarillo buộc phải sống ở vùng trống trải. Điều này không hề thay đổi cho mãi đến tận gần đây nhưng tôi sẽ nói sau.

    Nhóm Parachromis dovii hành xử khác hoàn toàn. Loài săn mồi dovii không thích tụ tập thành nhóm. Giống như trong tự nhiên, chúng thích sống đơn độc. Trong cichlidarium, chúng giữ khoảng cách hết sức chính xác, mỗi con chiếm một hang riêng. Chúng bảo vệ vùng lãnh thổ xung quanh tổ nhưng chỉ đối với những cá thể cùng loài. Chúng không để ý lắm đến những loài cá khác. Tất nhiên điều này không thể duy trì được mãi. Một khi chúng đạt kích thước tối đa (tôi bắt đầu nhận ra điều này) thì tôi phải giảm số lượng cá thể trong nhóm và có lẽ cuối cùng chỉ còn một cặp duy nhất mà thôi.

    Vào giờ cho cá ăn, tất cả những trật tự trên đều không còn tác dụng nữa. Ở mặt kiếng phía trước có vô số cá tụ tập và khi tôi vừa bỏ thức ăn (krill, mysis #, sò đông lạnh và những thứ khác) vào nước, chúng lồng lộn tranh ăn. Chúng hầu như chỉ đớp thức ăn nhưng đôi khi đớp cả vào tay tôi. Điều này làm tôi luôn phải giải thích về các vết xước trên ngón tay của mình : “không, không phải vợ tôi mà do lũ cá”. Tôi là khách hàng lớn của các tiệm bán thức ăn cho cá. Tôi cho chúng ăn gần 1 kg một ngày.

    Cũng tương tự ở những hồ khác. Những loài Amphilophus có thể nuôi theo nhóm khá dễ dàng. Ở hồ 2, loài Archocentrus centrarchus tạo thành một nhóm khăng khít hơn là những loài Amphilophus. Có lẽ vì chúng có kích thước nhỏ hơn. Chúng thường tụ thành nhóm và di chuyển khắp hồ. Hành vi bầy đàn ở cichlid?
    [​IMG]
    [​IMG]
    Hồ 1 trong cichlidarium nuôi các loài Amphilophus amarillo, Amphilophus sagittaeParachromis dovii.

    Trưởng thành
    Khi đạt từ 1 đến 2 năm tuổi, cichlid Trung Mỹ sẽ đạt độ thành thục sinh dục. Và thời điểm không lường trước xảy ra khi rất nhiều cặp cá hình thành trong cichlidarium. Điều này có thể rất thú vị.

    hồ 1, một con sagittae đực đã bắt cặp với một con cái duy nhất. Chúng ở độ tuổi bán trưởng thành khi mới nuôi nên cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Chúng sinh sản sau mỗi 3 tuần. Nhưng một khi cá con đủ lớn để rời khỏi tổ và bơi ra xung quanh, chúng trở thành con mồi của doviiamarillo. Và cặp cá lại bắt đầu lại từ đầu. Trong giai đoạn này, sự lấn át của sagittae đối với amarillo rất rõ rệt. Cặp cá chiếm khoảng một phần ba hồ; hai con cá đực khác sống trong những hang còn lại vì vậy những con amarillo phải ở vùng trống trải. Ở đấy chúng tương đối an toàn. Loài Parachromis dovii có cách đảm bảo an toàn khác cũng khá hiệu quả (xem ở đoạn trên).

    Hồ 2 diễn ra hoàn toàn khác. Những con chancho hãy còn nhỏ nhưng Amphilophus zaliosus đã đủ lớn để bắt đầu sinh sản. Con đực chọn một trong hai con cái để bắt cặp. Việc sinh sản luôn diễn ra ở “sân sau” tức là đàng sau những phiến đá ở phía sau và bên hông của hồ. Tôi chỉ thấy bầy cá con (và cá bố mẹ) một khi chúng bắt đầu bơi được. Một bầy cả ngàn con cá bột tạo ra một quang cảnh rất ấn tượng. Parachromis managuensisArchocentrus centrarchus không thể hiện bất cứ sự đe dọa nào. Chúng hãy còn quá nhỏ.

    Mặc dù hồ 3 nhỏ hơn hai hồ đầu nhưng lại nuôi nhiều loài hơn hai hồ trên. Có trên dưới 3 cặp cá bắt đầu sinh sản. Neetroplus nematopus chiếm nhiều lợi thế trong tình thế này. Chúng tương đối nhỏ và có thể tận dụng các hang và kẽ nứt hiệu quả hơn những loài khác. Không lâu sau đó, tôi có cả thảy 3 cặp cá sinh sản đồng thời. Nhóm Hypsophrys nicaraguensis gồm có hai con đực và 3 con cái, tỷ lệ này với tôi là lý tưởng. Mặc dù chúng là anh chị em với nhau (bắt trong cùng một mẻ lưới) chúng lại trông rất khác nhau. Không chỉ khác biệt về màu sắc, hai con cá đực cũng khác nhau về hình dạng (một con có thân cao hơn). Nicaraguensis là loài có hình dáng rất biến thiên. Trong tự nhiên, nicaraguensis cạnh tranh với nematopus về địa điểm sinh sản (Heijns, 2002). Trong hồ cảnh cũng vậy. Giống như ngoài tự nhiên, nicaraguensis hầu như luôn thất bại. Vì vậy, sau vài lần nỗ lực, chúng bỏ cuộc.

    Trong một nhóm 12 con Amphilophus xiloaensis có lẽ sẽ xuất hiện vài cặp. Vâng, đúng vậy. Trong một tuần, có 4 cặp cá hình thành. Một trong số những cặp đó có con cá cái dạng màu vàng (nó lột từ nhiều tuần trước). Sau đó, một trong số những cặp còn lại cũng có con đực lột thành màu vàng. Nhưng nó chưa chịu sinh sản.

    Bây giờ rõ ràng là hồ rộng có nhiều thuận lợi. Mặc dù các dạng citrinellus nổi tiếng với việc chỉ có thể nuôi mỗi cặp một hồ nhưng ở hồ 3 chúng vẫn sống chung với nhau. Lãnh thổ của mỗi cặp rất gần với nhau. Và ở giữa vẫn còn chỗ cho một cặp nematopus. Một khi mùa sinh sản thực sự bắt đầu, cá con của nhiều cặp khác nhau xuất hiện đồng thời khắp cả hồ. Chúng ở rất gần nhau. Để minh họa: hang của hai cặp xiloaensis kế cận chỉ cách nhau 50 cm. Cá con hiện diện bên trong và phía trước hang. Hòn đá biên giới giữa hai lãnh thổ bị đào bới bởi một cặp nematopus. Và chúng cũng đẻ một bầy cá con! Những hồ nuôi cichlid có thể trở nên rất đông đúc nhưng hồ này chịu đựng được. Có lần tôi đếm được cả thảy 8 bầy cá con. Vào một thời điểm!

    Crytoheros nigrofaciatushồ 4 lại sống theo cách riêng. Nhóm cá thể hoang dã ban đầu sống riêng một hồ và làm điều mà bạn muốn: sinh sản. Những con đực đều bắt cặp (để lại một con cái lẻ loi) và chẳng bấy lâu sau đó hồ đầy cá con. Bây giờ, sau một năm, có ba thế hệ sống trong hồ và vô số hành vi sinh sản đồng huyết xảy ra. Trung bình có 5 bầy cá con hiện diện cùng lúc trong hồ, cơ hội tốt để nghiên cứu về quan hệ xã hội của loài nigrofaciatus. Sự hung dữ trong cùng loài cao hơn nhiều so với đối với những loài cichlid khác. Nguyên tắc là mỗi cặp nigrofasciatus cố gắng thiết lập lãnh thổ lớn nhất có thể. Nó có thể là toàn bộ hồ. Điều duy nhất ngăn cản chúng đó là một cặp cá khác. Vì vậy lúc ban đầu có 3 cặp cá chia nhau một hồ. Bây giờ có ít nhất 10 cặp chia nhau một hồ kéo theo lãnh thổ của mỗi cặp giảm đi rất nhiều. Nhưng chúng thích nghi rất tốt. Mục tiêu kế tiếp của tôi là tìm hiểu xem đâu là điểm giới hạn của chúng. Có bao nhiêu nigrofaciatus có thể nuôi chung trong một hồ?

    Trở lại hồ 2 một chút. Cặp Amphilophus zaliosus sinh sản. Con cá cái thứ hai mất dạng. Nó trốn ở đâu? Có còn sống hay không? Trong nhiều tuần tôi cố tìm nó nhưng không thấy đâu. Tôi bắt đầu cho rằng nó đã chết. Và rồi nó bất ngờ xuất hiện. Với cả đàn con! Điều này đơn giản là không thể được. Ở đầu hồ bên kia, bầy cá con vẫn còn đó. Và cha mẹ chúng cũng ở đó. Những con cá khác hãy còn quá nhỏ, nghi vấn về ai là cha của bầy cá này không khó để trả lời. Và vì vậy nó chứng tỏ rằng Amphilophus zaliosus có thể thiết lập một hậu cung (harem). Đây là điều mới mẻ không chỉ là với tôi. Bạn bè tôi ở Nicaragua cũng chưa từng thấy hành vi này ở những loài Amphilophus bao giờ. Vì vậy, trong hai tuần kế tiếp, tôi quan sát con zaliosus đực di chuyển giữa hai dòng con của nó. Nó bơi rất nhanh phía sau những phiến đá đặt ở sau hồ khi di chuyển từ bầy cá con này sang bầy kia để bảo vệ chúng. Một bầy lớn hơn nhiều so với bầy kia. Vì vậy một điều không dự kiến trước đã xảy ra: chúng bị săn đuổi bởi những con cá khác và chỉ còn sót lại một ít. Với tôi điều này có nghĩa là, nếu tôi muốn duy trì loài zaliosus cho thị trường cá cảnh châu Âu, tôi nên bắt và nuôi cá con ở hồ riêng. Một hôm, tôi bắt khoảng 50 con và đưa cho người bạn muốn nuôi chúng. Buổi sáng hôm sau, mẹ của chúng bị chết! Dường như nó bị cắn chết bởi con cá đực. Cho đến tận bây giờ tôi cũng không rõ tại sao nó lại làm thế. Thật may mắn, nó không đả động gì đến con cá cái còn lại và từ đó luôn sinh sản với con này. Một số cá con vẫn còn sống cho dù có sự hiện diện của những con Parachromis managuensis khá lớn. Cá con sống trong vùng lãnh thổ của cha mẹ ngay cả khi chúng đẻ lứa cá mới. Có lẽ một nhóm cá nhỏ đang dần hình thành.

    [​IMG]
    Lần đầu hành vi sinh sản hậu cung ở loài Amphilophus zaliosus được quan sát trong cichlidarium.

    Sự sinh sôi ở hồ 3 vẫn tiếp diễn mà không hề có dấu hiệu suy giảm nào. Mặc dù kỷ lục (8 bầy cá một lúc) chưa được lập lại nhưng thường có nhiều bầy cá sinh sản cùng lúc. Sự phức tạp là điều không thể lường trước. Như tôi đã nói, không phải mọi con xiloaensis đều có đối tượng bắt cặp. Nhưng chúng luôn muốn được như vậy. Vì vậy mà đôi khi những con đơn độc luôn cố tự bắt cặp. Chắc chắn là xiloaensis thường xuyên thay đổi đối tượng (tôi cho rằng chúng không duy trì đối tượng bắt cặp suốt đời), nhưng có lần một con cá cái bơi ra xa để xua đuổi kẻ xâm nhập khỏi lãnh thổ của nó và bảo vệ đàn con mới bắt đầu bơi được vài ngày. Chắc chắn là lúc này cá con không thể tự tồn tại được. Nhưng con cá đực lại thấy ổn và ngay lập tức bắt cặp với con cá cái khác. Vì thế cá con chết hết và cá đực bắt đầu với con cá cái kia. Vậy đó. Sự ích kỷ có thể gây ra nhiều rắc rối. Một khi sống thật gần nhau, cá con có thể di chuyển từ bầy này sang bầy kia và chúng thường làm như vậy. Điều này cũng xảy ra ngoài tự nhiên. Cá cha mẹ chăm sóc cá con có khi không phải là con của nó. Đây chính là hình thức sinh sản tập đoàn. Ở hồ Apoyo, tôi từng chứng kiến một dạng citrinellus mà chúng sinh sản theo tập đoàn trên mặt đá. Dĩ nhiên là điều này không thể thấy ở trong hồ nuôi. Tôi từng chứng kiến cả một đàn cá thay đổi bố mẹ. Bầy cá con của một cặp cá đơn giản nhập vào bầy cá con của một cặp cá khác. Cặp cá ban đầu không còn bầy con và bắt đầu sinh sản lại từ đầu.

    Nhưng có nhiều điều còn kỳ lạ hơn. Neetroplus nematopusHypsophrys nicaraguensis cũng góp phần. Dù rằng nicaraguensis thành công hơn như tôi đã từng mô tả. Có lần, chúng thậm chí sinh sản ở vùng nước trống trải. Trong một hốc nhỏ gần mặt kiếng phía trước tôi thấy một ổ trứng lớn. Trứng nảy nhè nhẹ bên trong hốc. Bạn có lẽ đã biết trứng của nicaraguensis không có chất keo dính. Trước khi trứng nở, cá bố mẹ sẽ di chuyển chúng vào “lãnh địa” riêng. Nematopus làm tốt hơn. Chúng cũng được biết như là loài đẻ trứng trong hang, chúng đẻ vào một lỗ ở vùng nước trống trải. Những cái trứng nhỏ màu xám rất dễ nhận biết. Nematopus chăm sóc con lâu hơn nicaraguensis. Hầu như mọi lúc đều có 3 cặp cá sinh sản ở hồ 3. Một cặp làm đặc biệt tốt. Chúng thường chăm sóc con cho đến khi cá con tự lo được. Bí mật của chúng ở chỗ chúng luôn khăng khít trong khi những cặp khác gây lộn với nhau trong nhiều tuần. Và chúng thường chăm sóc một lứa cá con trong hai tháng! Tôi chưa từng thấy điều này trước đây trong thế giới của cichlid. Nhưng như vậy vẫn là chưa hết đối với nematopus. Trong hồ còn có một cặp Crytoheros nigrofaciatus (dùng làm tiêu ngư ##). Và dĩ nhiên chúng cũng thường xuyên sinh sản. Có lần, những kẻ hàng xóm nematopus lấy đi một số con non của chúng và đem nhập với đàn của mình. Có khoảng 15 con nigrofasciatus non gia nhập vào đàn nematopus và ở đó (được chăm sóc và bảo vệ) trong hai tuần. Điều ngạc nhiên đó là nigrofasciatus non đã không cố quay trở lại mặc dù chúng hoàn toàn thấy rõ đàn của chính mình.

    [​IMG]
    [​IMG]
    Hai loài có quan hệ gần gũi Neetrophus nematopus (trên) Hypsophrys nicaraguensis (dưới). Khi thiết lập lãnh địa sinh sản, nicaraguensis cạnh tranh không lại loài nhỏ con và hung dữ hơn nematopus.

    [​IMG]
    Cryptoheros nigrofasciatus xuất xứ từ đảo Ometepe trong hồ Nicaragua làm rất tốt công việc của chúng ở cichlidarium: sinh sản!

    [​IMG]
    Loài Amphilophus xiloaensis ở hồ 3, cichlidarium; ba cặp sinh sản đồng thời trong những lãnh địa chỉ cách nhau khoảng 50 cm!

    Tôi đã để ý đến sự lấn lướt của sagittae đối với amarillo. Nhưng ở hồ 1, điều này dẫn đến một số tình trạng mà tôi không thích lắm. Tôi có thể chấp nhận một cặp sagittae và hai con đực khác để hạn chế sự sinh sôi của nhóm amarillo. Nhưng khi một con amarillo cái có dấu hiệu sắp sinh sản (điều này giải thích tại sao tôi yêu thích amarillo) nó không bao giờ chọn một trong số những con sagittae đực! Nhưng bây giờ thì nó làm, đã có hàng loạt sự tạp giao xảy ra và nó vẫn chưa chịu thay đổi ý định. Nhưng vẫn chưa hết. Cuối cùng, một con amarillo đực đạt đến kích thước 25 cm và phát triển một cục gù ấn tượng trên đầu, nó quyết định là đã đến lượt mình. Bất chợt, tôi nghĩ rằng cục gù có ý nghĩa như là một sự thiết lập trật tự xã hội. Khi cố gắng đạt ưu thế trong nhóm, cục gù sẽ ngày càng lớn hơn, một khi trật tự được thiết lập thì nó sẽ nhỏ lại. Con cá đực nói trên sau cùng mất đi cục gù khi nó thành công trong việc bắt cặp với một con cá cái.

    Con cá cái này là con amarillo cái thứ hai với màu sắc đặc trưng nổi tiếng của loài amarillo, nó nhanh chóng sinh sản. Thư viện hình ảnh của tôi tăng lên rất nhiều. Như dự đoán, lần sinh sản đầu tiên không thành công. Cá con của những lần sinh sản đầu tiên thường chết hết vì cá cha mẹ thiếu kinh nghiệm. Chúng luôn tiếp tục thử lại ở những lần sau. Nhưng không phải lần này! Mặc dù tôi mong rằng con cá đực sẽ sinh sản sau đó nhưng nó một lần nữa lại bị con sagittae đánh bại. Điều này không có vấn đề gì nhưng con cá cái lại làm tôi tức giận. Nó bắt đầu bắt cặp với con sagittae đực. Bây giờ tôi có 3 con cá sagittae đực đang bắt cặp, một với cá cái cùng loài và hai với amarillo cái. Và hồ 1 lại bị chia làm 3 phần với những con amarillo bị đẩy ra vùng nước trống.

    Có ai thích hai con sagittae đực không?

    [​IMG]


    ==========================================


    Ghi chú
    * Cichlidarium là từ ghép giữa cichlid và aquarium, tức phòng nuôi cá cichlid.
    ** Stiphout là một ngôi làng ở miền nam Hà Lan.
    *** Những loài mà trước đây từng được coi là citrinellus nhưng sau được xác định là những loài mới, chẳng hạn như các loài Amphilophus xiloaensis, Amphillophus amarilloAmphilophus sagittae ở hồ Xilóa. Xem thêm thông tin ở đây.
    # Krill, mysis: các loài giáp xác dạng tôm. Loài đầu ở biển, loài sau ở nước ngọt.
    ## Tiêu ngư (dither fish) dùng để “dẫn dụ” hay “kích thích” nematopus chứ không phải là mồi (thức ăn).
     
    Chỉnh sửa cuối: 22/6/17
  2. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Các nhà khoa học Mỹ đã đổi tên hai loài cichlid Trung Mỹ được nhắc đến khá nhiều trong các bài viết của Willem Heijns là Neetroplus nematopusHypsophrys nicaraguensis.

    Trong bài viết được đăng tải gần đây trên tạp chí Zootaxa, Prosanta Chakrabarty và John Sparks đã định nghĩa lại chi Hypsophrys và coi Neetroplus như là một tên phụ đồng nghĩa với nó.

    Loài Neetroplus nematopus nay đổi tên thành Hypsophrys nematopus Hypsophrys nicaraguensis đổi thành Hypsophrys unimaculatus, như vậy Hypsophrys nicaraguensis được coi là tên phụ đồng nghĩa.

    Các chi NeetroplusHypsophrys vốn là những chi đơn tức chỉ gồm một loài duy nhất là N. nematopusH. nicaraguensis. Hiện tại, chi Hypsophrys bao gồm 2 loài là H. nematopusH. unimaculatus.

    H. unimaculatus được nhận dạng bằng những đốm trên thân và dạng răng nhọn (caniniform), trong khi H. nematopus được nhận dạng bằng những sọc sậm, không có đốm trên thân và dạng răng tù (spatulate).

    Chakrabarty và Sparks phân biệt chi Hypsophrys với những chi khác thuộc tông Heroini bằng hình dạng mõm rất tròn và miệng hơi nhỏ và ngắn.

    Các tác giả cũng đoán rằng loài Cichlasoma spilotum, vốn được coi là một tên phụ đồng nghĩa với H. unimaculatus, có thể là một loài riêng biệt.
     
  3. DevonMelfice

    DevonMelfice Active Member

    Bể cá cichlid của ông này ấn tượng đấy, kích thước lớn mà cũng nhiều loài đa dạng, mặc dù ko có tấm ảnh nào chụp toàn cảnh các bể để mình học tập cách setup.. Trong ảnh cuối có con cá lột rồi, hơi bị lạc lõng trong môi trường này :D..
     
  4. sjnguyen

    sjnguyen Banned

    qua hay lun na anh oi:wallbash:
     

Chia sẻ trang này

Xưởng in thùng carton giá rẻ, lấy ngay
Nơi bán chai lọ hũ mỹ phẩm Giá Sốc
Địa chỉ in tem vỡ giá rẻ chỉ 50đ