Liên hệ quảng cáo: anh Nguyễn Long Khánh (mobile: 0907 707 171 - nick: nlkhanh - email: longkhanh1963@gmail.com)
Cach tri nam da mat hiệu quả | Kem chong lao hoa da nhanh nhất | Trị vết thâm mụn trên mặt | Trẻ đi ngoài nên ăn gì? | Thuc an giau chat xo tự nhiên | Táo bón ở trẻ em phải làm sao? | Trị trẻ biếng ăn, kén ăn | Cách trị trẻ biếng ăn hiệu quả | Cách Chăm sóc da sau đi biển về | Mẹo Phân biệt sởi và sốt phát ban thế nào | Khử mùi hôi vùng kín nhanh | Thuc pham tot cho ba bau nên ăn | Axit folic cho bà bầu | Bà bầu nên ăn gì tốt nhất | Bổ sung canxi cho bà bầu đầy đủ | Chuyển nhà sinh viên giá rẻ | Chuyen nha Ha Noi uy tín | học bằng lái xe ô tô giá rẻ | mua phế liệu sắt vụn nhôm đồng | Công ty dược phẩm là gì? | Quần áo bảo hộ lao động | Xưởng in tem nhãn giá rẻ tại Hà Nội |

Sinh Cảnh Pterophyllum altum

Thảo luận trong 'Bài Viết' bắt đầu bởi vnreddevil, 8/9/18.

  1. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Sinh Cảnh Pterophyllum altum
    Edgar Ruiz - http://theangelfishsociety.org/newsletters/2009_Aug_v23.pdf

    Mọi người thường hỏi tôi về thông số nước liên quan đến cá ông tiên altum (Pterophyllum altum). Tôi có ấn tượng rằng một số người trong chúng ta xem thông số nước như là yếu tố quan trọng duy nhất khi cố gắng cản P. altum. Chúng ta phải bắt đầu bằng cách ghi nhớ và luôn tự nhủ rằng thông số nước là một trong số hàng loạt yếu tố môi trường mà chúng ta phải mô phỏng để thành công trong việc biệt dưỡng (conditioning) loài cá nhiều thách thức này.

    Ba yếu tố, một khi được tích hợp vào hồ cá, sẽ giải mã được nhiều bí ẩn về việc sinh sản P. altum:

    1. Giả lập sinh cảnh (biotope) đích thực của chúng.

    2. Giả lập khẩu phần (diet) tự nhiên và tập tính (habits) săn mồi của chúng.

    3. Giả lập [thành phần] hóa học (chemical), vật lý (physics) và động lực học (dynamics) nước.

    Bài viết này thảo luận về sinh cảnh nơi P. altum được phát hiện ngoài tự nhiên.

    Sinh cảnh là gì?
    Dù thuật ngữ “sinh cảnh” (biotope) nhiều lần được xem như là đồng nghĩa với “địa bàn” (habitat), để đơn giản hóa bài viết này tôi sẽ coi địa bàn như là một hình ảnh được định nghĩa (defined) bên trong một sinh cảnh. Trong bài viết gốc của mình, tôi định nghĩa địa bàn như là một vùng bị chiếm hữu (occupied) bởi một quần thể (population) đơn lẻ của một loài và sinh cảnh chỉ đến một vùng bị chiếm hữu bởi một đơn vị sinh thái (ecological unit) tổng thể. Một sinh cảnh có điều kiện môi trường và phân bố tổng thể động thực vật tương đối đồng nhất. Một địa bàn thì hạn hẹp hơn, những loài cụ thể hơn được phát hiện, mà chúng vốn thích nghi với những thông số cụ thể hơn. Chúng ta có thể nói về địa bàn Pozo Azul, nghĩa là cụ thể, hay Sinh Cảnh Trung Orinoco… cái đầu là một phần thuộc cái sau, nhưng cái sau bao hàm phạm vi rộng lớn hơn.

    Sinh cảnh (biotope) là một vùng với điều kiện môi trường và phân bố tổng thể động thực vật tương đối đồng nhất
    Pterophyllum altum được phát hiện ở đâu?
    P.altum nhất định được phát hiện ở lưu vực (basin) Sông Orinoco. Lưu vực được phân bố khoảng 2/3 ở Venezuela và 1/3 ở Colombia. P. altum cũng được phát hiện ở lưu vực-phụ Thượng Rio Negro, dẫu kế cận với hệ thống Orinoco và chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi nó, thực sự là một phần của Lưu Vực Sông Amazon [thực ra là P. scalare].

    Thượng Rio Negro phát sinh từ đoạn nối của Venezuelan Rio Casiquiare (một nhánh của Thượng hay Alto Orinoco, đọc là KAH-SEE-KYA-DEH) và Colombian Rio Guainia (đọc là GWYNEE-AH). Rio Negro non trẻ chạy dọc biên giới Venezuela và Colombia trong khoảng 50% chiều dài của nó trước khi đi vào Bắc Brazil. Trung và Chính Rio Negro hoàn toàn ở Brazil.

    Mọi con sông phía đông dãy Andes và từ mạn bắc Rio Inirida ở Colombia đều đổ vào Orinoco. Orinoco sau đó chảy về phía Bắc và rồi mạn xéo đông bắc dọc Venezuela gần như toàn bộ chiều ngang (W>E) của nó và đổ vào Đại Tây Dương.

    Một loài Pterophyllum đơn lẻ cư ngụ tự nhiên trong toàn bộ vùng nước này, và đó là P. altum. Các vùng Colombian và Venezuelan Llanos, Amazonia và Goajira chỉ bị phân tách bởi các đường mà bạn thấy trên bản đồ, nhiều người đang sống ở đó là song tịch (binationals).

    Vì vậy nếu P. altum của bạn được đánh bắt gần như ở bất kỳ đâu trong lưu vực Orinoco, dẫu Venezuela hay Colombia, chúng phải trông như nhau. Những biến dị (variations) có thể xuất hiện, nhưng không bao giờ đủ cho việc nghiêm túc xem xét chúng như những loài khác nhau hay những khác biệt này không được củng cố, nghĩa là, chúng dường như phụ thuộc nhiều hơn vào khẩu phần hay những yếu tố bên ngoài khác (chẳng hạn cá Inirida dường như có sọc ngả màu than – coal colored – hơn, trong khi cá Ventuari có thể xuất hiện sọc chocolate và đỏ nhiều hơn).

    Orinoco, Casiquiare và Rio Negro
    Trong vài năm gần đây, chủ đề “Rio Negro Altum” mà một số nhà nghiên cứu coi là một biến thể của P. scalare vốn bị ảnh hưởng một cách tự nhiên bởi kiểu gien (genotype) P. altum từng được bàn thảo.

    Nhằm thấu hiểu cuộc thảo luận giữa Orinoco Altum (đích P. altum) và Rio Negro Altum (giả altum) vốn là dạng P. scalare cao vây (high finned) chia sẻ các tính trạng altum ở những mức độ khác nhau (đôi khi gần như giống hệt dạng Orinoco), trước hết chúng ta cần hiểu một chút về cách mà những con sông ngày nối kết và chảy vào nhau và cách mà một số loài và/hay quần thể thủy sinh có thể di chuyển giữa các lưu vực.

    Chúng ta nói về Orinoco. Đó là một lưu vực riêng biệt, thủy khối (volume) lớn thứ tư địa cầu, nằm ở Bắc Nam Mỹ giữa Venezuela và Colombia.

    Rio Negro, con sông lớn thứ sáu trên thế giới theo lượng xả (discharge volume), là một phần thuộc Lưu Vực Sông Amazon. Nó là nhánh lớn nhất của Hệ Thống Amazon/Solimoes. Thực ra, Sông Amazon đúng nghĩa sinh ra từ đoạn nối của Negro và Solimoes. Negro tự nó sinh ra từ vùng nước của Orinoco và Guainia. Nước sông Orinoco chảy xuống qua con sông quanh co ±250 dặm có tên Casiquiare, mà nó nhô ra mạn Nam trên đất bằng từ một khúc quanh gắt của Thượng Orinoco ở nơi mà bờ trái của con sông liên tục bị lấn át bởi dòng chảy xiết từ Cao Nguyên Guyana (vâng, ở đây bạn có thể nói GOOYAH-NAH theo tiếng Anh hay GWA-YAH-NAH theo tiếng Venezuelan Spanish)… lưu ý rằng chỗ này không có gì liên quan với Guainia đã nói ở trên.

    Con sông này chảy từ Bắc xuống Nam từ Orinoco với dòng chảy xiết hay hòa hoãn hơn tùy mùa, mưa hay khô. Nó không bao giờ chảy ngược lại như một số sách nói. Một số loài có khả năng bơi ngược dòng nước này, characids, bagrids hay động vật hữu nhũ cỡ lớn, nhưng nó cũng phục vụ như là một rào chắn tự nhiên với những loài khác (chẳng hạn Symphysodon) và những loài Heroine cichlids tương tự.

    Trong những năm 70, một tài liệu được xuất bản bởi Axelrod lưu ý những khác biệt được phát hiện ở chi Pterophyllum trên toàn hệ thống Amazon, Negro và Orinoco. Nghiên cứu này nhấn mạnh cách mà kích thước, số tia vây, số vảy đường bên và những biến đổi (variables) khác “tăng” đến ranh giới phía Bắc của vùng phân bố của chi. Bạn đi càng xa lên phía Bắc, Rio Negro đi đến chỗ mà P. scalare rõ ràng và hiển nhiên bắt đầu trông càng giống với P. altum.

    Trong nhiều năm trời (thực sự đến ngày nay) các nhà Ngư Loại Học Venezuela và Colombia đều xem Pterophyllum thuộc thủy vực (watershed) Rio Negro như là P. altum. Nhưng chúng có thực sự là?

    Có thể nào một loài trông quá giống đến nỗi thậm chí con mắt lão luyện có thể bị lầm, và một khi được đem phân tích DNA chúng ta phát hiện chúng khác nhau? Chúng ta vẫn chưa biết. Chúng ta có cần hay muốn biết nếu chúng đẹp như nhau?

    Rio Negro altum mạnh khỏe hơn, dễ nuôi và tăng trưởng hơn, dễ sinh sản hơn… dễ hơn nhiều theo các thông báo, và chúng trông quá giống P. altum… nhưng chúng có lẽ là P. scalare.

    Dường như nguồn gien đổ xuống qua Casiquiare đã điểm trang và khoác bộ cánh xinh đẹp cho đồng loại phương Nam như thể chuẩn bị cho chúng tham dự “Carnaval” hay Rio hay Sao Paolo nổi tiếng. Và rồi… nó thu gọn thành Scalare như chúng ta đều biết và điều đó cho phép chúng ta thu được mọi biến dị thuần dưỡng như chúng ta thấy ngày nay.

    Dọc đường, hành trình đưa chúng ta qua những vùng nước đen chảy xiết, mát hơn chịu ảnh hưởng bởi các thác nước khổng lồ chảy và băng qua cao nguyên gập ghềnh Guyana Shield, rồi trên những ngọn đồi nghiêng ngả cho đến khi tiếp cận đồng bằng nơi Amazon chuyển thành một đại dương nước ngọt đục ngầu. Orinoco Altum sinh ra từ Cao Nguyên Guyana, còn Amazon Scalare, chị em họ của nó, là từ nơi khác, gần như một thế giới khác.

    Và kịch bản của tôi vẫn quá chung chung, vâng tôi chỉ có thể viết về Orinoco Altum… Peruvian Altum là loại cá xinh đẹp khác, nhưng tôi bỏ lỡ nó… chưa từng đến Nanay hay Peru. Nhưng hỏi tôi về Orinoco Altum, và rồi một số nơi, chỉ quá biên giới từ Puerto Ayacucho, nơi con trai tôi chào đời hay San Carlos de Rio Negro.

    Địa Bàn Altum
    Cá ông tiên P. altum được phát hiện ở ba sinh cảnh riêng biệt dọc theo Sông Orinoco và các chi lưu của nó. Từ Bắc xuống Nam, chúng là Caño Llanero (đọc là Cán-yo Yanéhro); Dòng Nước Trong Alto Orinoco hay Sinh Cảnh Rio Ventuari; và Sinh Cảnh Sông Nước Đen Rio Negro.

    Sinh Cảnh Caño Llanero
    Khi nói về “Caño Llanero” chúng ta chỉ đến các con lạch (creek) ở vùng Venezuelan hay Colombian Llanos và chúng có thể được mô tả một cách điển hình như là lạch ấm, lầy lội, chảy chậm vốn đổ vào các chi lưu của Orinoco từ bờ trái của nó và gần như về hạ lưu từ đoạn nối của Orinoco với Sông Meta vốn đến từ Colombia. Một số chúng có thể xuất phát từ hướng Nam, thượng lưu, bên phía Colombia.

    “Caño” theo tiếng Tây Ban Nha là Lạch (Creek), và “Llano” là đồng bằng. Do đó, caño llanero chỉ đến một dòng chảy đi qua vùng đồng bằng.
    Llanos bao gồm một bình nguyên (grassland) rộng lớn kéo dài theo đường chéo từ chính đông đến tây nam đi qua trung tâm bằng phẳng của Venezuela và đi vào Trung Tâm Nam Colombia. Llanos bị chia cắt bởi những con sông lớn, mọi chi lưu cho đến Orinoco khổng lồ. Về hướng Tây, ở Colombia, Sông Inirida ít nhiều hình thành ranh giới cực nam của Llanos. Các Sông Vichada, Meta và Arauca đều là các nhánh phát sinh từ Colombia của Orinoco. Xa hơn về hạ lưu (đến phía Bắc và Đông) là các Sông Apure, Guanare và Caroni, trong số nhiều con sông ở Venezuela.

    Caños Llaneros, mà sinh cảnh này được đặt tên, là những con lạch nhỏ vốn chảy vào các nhánh sông này. Chính ở những lạch này mà P. altum ở Llanos thường sinh sản. Chẳng mấy khả năng chúng tìm thấy sự yên tĩnh cần thiết ở Orinoco và các chi lưu chính của nó vì thủy khối và dòng chảy quá cao. Những loài săn mồi chủ chốt cũng cư ngụ trong các dòng chảy chính (Payara, Pirahna).

    Đặc điểm chính của Caños Llaneros là các dòng chảy chậm với ao hồ rải rác hình thành dọc theo các đoạn uốn lạch (creekbends). Những hồ này được gọi là “remansos” (vùng tĩnh). Nước trong nhưng sẫm vì nồng độ hữu cơ đậm đặc đến từ các vùng bình nguyên và đầm lầy xung quanh. Đất sét cũng bổ sung một yếu tố vào độ đục (turbidity) trong mùa mưa cũng như bùn từ núi Andes ở những con lạch đó vốn phát sinh từ chân núi Andes. Lượng mưa gia tăng ở Llanos vào khoảng tháng Năm đến tháng Mười. Nước hiển nhiên không có mấy độ cứng. Đất sét là đất acid, tự nó giàu hữu cơ và hoàn toàn không có khả năng đệm (buffering capacity).

    Trong vài môi trường Caño Llanero, chúng ta thực sự có thể chứng kiến một số độ kiềm (alkalinity) vừa phải. Việc này thường xuyên hơn – trong các nguồn nước tiếp cận Bajo hay nam Orinoco từ phía Nam. Một số những lạch này có thể hòa vào nguồn nước xuất phát từ Guyana Shield nơi thường có đá vôi. Nước acid vẫn thắng thế, lượng chất đệm địa phương gần như bằng không và nguồn nước này, như những nguồn khác nơi altum được phát hiện, rất mềm và luôn acid.

    Nước trong một [sinh cảnh] Caño Llanero điển hình sẽ thay đổi về pH từ khoảng 4.5 đến 6.5 tùy thuộc vào mùa và địa điểm. Nhiệt độ nước sẽ biến thiên từ 82°F đến 88°F, nhưng có thể hạ xuống đến trên 70 trong trường hợp mưa to. Độ cứng tối đa là 1 [dH~17.848 ppm]. Dòng nước có thể biến thiên từ rất chậm, nhưng nhất định chuyển động như remanso, đến vừa phải vốn cho các cư dân của nó một mức độ hoạt động hiếu khí (aerobic) nhất định khi rời khỏi bờ lạch. P. altum chuộng nguồn nước rất giàu ô-xy với một số chuyển động.

    Về đời sống thực vật ở Caño Llanero, đây là sinh cảnh giống P. altum nhất mà trong đó chúng ta có thể thấy cây lá kiếm (swordplants). Ludwigia đầy rẫy vùng đầm lầy bò khắp mặt đất. Trong đầm lầy, nơi có thể là nguồn gốc của con lạch, nước thường sâu không quá 2 feet và được bao phủ bởi bèo tấm (duckweed). Dĩ nhiên, có thể có những vùng sâu hơn, và hầu hết đầm lầy này chỉ sâu dưới đầu gối. Điều hoàn toàn bình thường và được mong đợi ở đây, là trăn Anacondas và Babas (cá sấu sông alligator nhỏ).

    [​IMG]
    Một con lạch mạn Nam Caño Llanero vào mùa khô (lưu ý nước tĩnh, không như vậy vào mùa mưa).

    [​IMG]
    Một đầm lầy ở Llanos – nguồn nước hay phần thường xuyên của Caño Llanero. Cá bột altum và những cá thể nhỏ thường xuyên được phát hiện ở đây (tại đây toàn bộ bề mặt được bao phủ bởi bèo tấm, vùng nước mở ở xa về hậu cảnh ngay trước rừng cây – cảnh giác trăn Anacondas và sấu Alligators).

    Hầu hết nếu không muốn nói là tất cả thực vật trong sinh cảnh này là cây đầm lầy (bog plant), không phải cây thủy sinh đích thực. Đáy nền ở những đầm lầy này chủ yếu là đất sét, được bao phủ bởi một lớp mùn hữu cơ dày vốn được bồi đắp theo mùa khi mưa cuốn trôi “thảm dơ” năm ngoái xuống nước.

    P. altum sẽ sinh sản ngay hạ lưu, gần miệng lạch, dòng nước rất nhẹ tại điểm này cho phép cá bột đi vào đầm lầy để kiếm ăn. Cá altum lớn hiếm khi được phát hiện ở đầm lầy (cũng chắc chắn, altum lớn thậm chí khó bơi trong mực nước thấp dưới một foot).

    Sinh Cảnh Dòng Nước Trắng Alto Orinoco hay Rio Ventuari
    Hướng về phía nam trên Đường Caicara - Puerto Ayacucho, chỉ mạn bắc của Puerto Ayacucho mà chúng ta thấy miền quê thay đổi, đồi núi bắt đầu hiện ra và con đường thẳng bắt đầu uốn lượn từ bên này sang bên kia, và thực vật trở nên nhiều và rậm rạp.

    Chúng ta đi vào vùng Trung Orinoco và từ đấy trở xuống. Rừng mưa ngự trị tuyệt đối. Dọc những sườn đồi thấp đông Orinoco, chúng ta có các dòng chảy tĩnh vốn đâm vào rừng. Những dòng chảy này đều nhanh chóng đổ vào dòng chính vốn chỉ cách vài dặm. Đây là những dòng chảy vốn bắt đầu hợp thành Alto Orinoco, thậm chí nếu Alto đích thực, hay thượng Orinoco vẫn xa hơn về phía nam. (Khi chúng ta nói thượng hay hạ, chúng ta đang nói về độ cao, không phải là quan hệ bắc-nam). Orinoco bắt nguồn sâu về phía Nam Venezuela và chảy theo mạn bắc-đông bắc ngang qua nó. Sinh Cảnh Alto Orinoco hay Rio Ventauri là khó thâm nhập nhất trong ba sinh cảnh, và do đó ít phổ biến nhất.

    Sinh cảnh này đến nay là cổ sơ nhất. Cát ở đây trắng và sạch, tích tụ nhiều lá mục trong các remanso. Rong mái chèo (Giant Vallisneria) đầy rẫy ở vùng được chiếu sáng nhiều hơn của dòng nước. Cây đổ điểm trang cho phong cảnh dưới nước, nhiều cây được bao phủ bởi rêu phía trên mặt nước, cành cây và gỗ đầm tích tụ ở các khúc quanh. Đá lớn và sỏi cuội được phát hiện dọc hai bên bờ. Dòng nước phần nào chảy xiết hơn các con lạch được mô tả trong Llanos vì chúng là suối (hill streams) phát sinh từ các “tepuyes” hay núi chóp bằng (mesas) kế cận vốn xuất hiện ở khắp Cao Nguyên Guyana Shield.

    Thông số nước ở đây điển hình là pH trung bình 5.0 như thường, độ cứng dưới 1, và nhiệt độ 76 - 84°F. Một cơn mưa có thể khiến nhiệt độ thấp hơn, gần trên 60 một thời gian.

    Một số con lạch với thông số này có thể được phát hiện xa hơn về phía Bắc, gần Puerto Ayacucho. Chính ở một số những dòng chảy này mà tôi thấy P. altum chăm sóc bầy con của chúng, trốn dưới đám rễ chằng chịt đâm ra từ bờ cát của lạch.

    Ở đây chúng ta có Pozo Azul mà khi tôi viếng thăm (1980-90) thể hiện một dòng suối điển hình vốn chảy xuống qua vòm của ranh giới cực bắc của rừng mưa Amazon ở Bang Amazon. Vùng này là một hệ sinh thái chuyển tiếp giữa rừng mưa và Llanos. Chẳng may, đó cũng là nơi dễ nhất để mọi người đánh bắt P. altum vì quan hệ của nó với một đô thị đông đúc (Puerto Ayacucho là Thủ Phủ Bang) phục vụ như là một sân bay nội địa. Ngày nay, Pozo Azul là một địa điểm du lịch phổ biến với hạ tầng và tiện nghi tươm tất.

    Để tìm P. altum ở Pozo Azul chúng ta cần đi lên thượng nguồn 500 m vào một khu mà ngày nay đang bị phá rừng. Tôi không biết chúng ta có thể tìm thấy Pozo Azul ngày nay không, nhưng nếu vậy, thì tôi chắc là không dễ.

    [​IMG]
    Thượng nguồn Pozo Azul (lưu ý dòng nước)

    Ở Pozo Cristal, có lẽ cách 2 hay 3 dặm, tôi thấy cặp cá thứ nhì (thực ra là hai cặp) cũng đang chăm sóc bầy con của mình. Pozo Cristal là địa bàn pha trộn quy tập nhiều Địa Bàn Caño Llanero hơn là Alto Orinoco. Nó cũng chảy trên một vùng bằng phẳng hơn gần Pozo Azul. Horst Linke tái thu thập cá chỉ vài kilometer về phía Bắc ở Laguna Paragueña.

    Hiện ở đây tại Pozo Cristal chúng ta đủ gần với Orinoco để một số loài lớn hơn có thể được thấy và môi trường trông rất giống với sinh cảnh Rio Negro chính thống (vốn thực sự xa hơn nhiều về phía Nam). Hàng loạt con lạch kiểu Caño Llanero đổ vào Pozo Cristal ở phần thượng nguồn của nó. Cardinal [tetra] có nhiều ở đây (thắc mắc là không có ở Pozo Azul). Rummy [nose tetra] cũng nhiều trong số những loài nhỏ.

    Lạch nước đen hay Sinh Cảnh Rio Negro
    P. altum cũng được phát hiện ở thủy vực (watershed) Thượng Rio Negro. Thủy vực Thượng Rio Negro nằm ở Colombia và Venezuela. Thượng Rio Negro chạy dọc theo biên giới Colombia-Venezuela trong khoảng 50% chiều dài của nó trước khi đi vào Bắc Brazil. Trung và Hạ Rio Negro nằm hẳn trong Brazil.

    [​IMG]
    Sinh Cảnh Lạch Rio Negro (lạch nước đen đích thực)

    Dòng chảy ở đây phần nào chậm hơn ở sinh cảnh Alto Orinoco, nhưng nó vẫn giàu ô-xy hòa tan so với các con sông Hạ Amazone và Hạ Orinoco. Với nhiệt độ nước tương tự sinh cảnh Caño Llanero (ấm), pH cũng trung bình 5.0 nhưng có thể xuống thấp đến 3.8 ở một số địa bàn. Độ cứng rõ ràng không có gì. Một lần nữa, cát trắng chiếm ưu thế đáy nền, nước rất sẫm, nhưng rất trong. Độ đục xuất hiện ở một số nơi khi lớp thực vật phân hủy hữu cơ che phủ đáy cát bị khuấy động vào cột nước. Một lần nữa, đáy cành cây, gỗ và lá thường được thấy. Một số con thác dọc hệ thống giúp (dẫu không nhiều bằng Cao Nguyên Guyana thuộc Alto Orinoco) góp phần vào nồng độ ô-xy hòa tan (d.o.) lành mạnh.

    Giả lập sinh cảnh Altum trong hồ nuôi
    Giờ chúng ta đã biết nhiều hơn về những sinh cảnh P. altum khác nhau vốn đang tồn tại, chúng ta sẽ cần tóm lược các mẫu thức (denominators) chung ở cả ba nhằm theo đuổi và giả lập chúng trong hồ nuôi của mình.

    Theo tôi 15 yếu tố sau đây là cần thiết cho việc nhập thủy (acclimatization) P. altum hoang dã vào môi trường nuôi nhốt:

    1. pH 4.5 đến 5.5

    2. Độ dẫn điện (electroconductivity) 0.5 đến 0.15 [có lẽ µS/m, tương đương 50-150 µS/cm]

    3. Nhiệt độ duy trì thường xuyên = 84°F (83°F-86°F) ~ 29°C

    4. Nhiệt độ điều trị = Không quá 88°F-90°F ~ 31°C-32°C

    5. Ô-xy hòa tan (bằng tuần hoàn và UV thích hợp)

    6. Đáy nền – cát sông trắng, 1-2mm, mòn, tròn, nhẵn (loại Torpedo Beach hay tương đương)

    7. Cành chết của cây thân gỗ (sồi, dái ngựa- mahogany, anh đào-cherry và tương tự)

    8. Rêu than (peat moss), lá bàng, trái tống quán sủ (alder cones) và môi trường hữu cơ tương tự để làm nước acid và mềm và cung cấp những đặc tính khắt khe (astringent) quan trọng. Nước không nên quá sẫm đến mức bạn không thể nhìn thấy cá mình một cách dễ dàng. Bạn cần nhìn thấy cá để biết chắc là chúng đang mạnh khỏe.

    9. Muriatic hay Sulfuric acid, để khiến nước acid hơn nữa nếu kết quả không đạt được bằng việc chỉ dùng môi trường thực vật tự nhiên. Chỉ sử dụng dung dịch pha loãng (diluted aqueous) và thật chậm rãi.

    10. Tôi hết sức đề nghị che chắn phía sau và hai bên hồ.

    11. Lọc UV [tia cực tím] đầy đủ (để tiêu diệt bất kỳ vi sinh nào hiện diện trong nước). Việc này sẽ làm tăng ô-xy hòa tan qua kiểm soát tải vi sinh (micro bioload) và cho phép cải thiện nồng độ ô-xy.

    12. Sục khí gián tiếp và mạnh đều cho phép toàn bộ cột nước đảo theo mọi hướng, nhờ đó tạo ra một dòng chảy vừa phải. Altum chuộng nước động hơn cá dĩa.

    13. Ánh sáng dịu hay giả lập địa bàn mái che (ánh sáng bị che và ngăn cản bởi thực vật bên trên).

    14. Khẩu phần: thức ăn tươi sống được ưu tiên. Lăng quăng, trùn đen, dế non (pinhead crickets) được tẩm bổ (gut loaded), ruồi giấm Hydei (loài lớn nhất sẵn có trên thị trường), bo bo Daphnia magna, cá mồi sống được tẩm bổ, v.v. Thức ăn khô làm mát và đông lạnh cũng như viên chất lượng tốt cũng được bổ sung vào khẩu phần. Thức ăn tươi sống được tẩm bổ vitamin và khoáng chất sẽ gia tăng tốc độ tăng trưởng và hệ thống miễn dịch khỏe mạnh.

    15. Tải sinh học (bioload): 15-20 gallon mỗi con trưởng thành là tối ưu, nhưng 10 gallon mỗi con là đủ chừng nào mà việc thay nước đảm bảo nồng độ nitrate bằng không. Nồng độ ammonia không ảnh hưởng đến pH thấp mà chúng ta sẽ nuôi cá.

    Hệ Miễn Dịch P. altum
    Orinoco Altum đến từ vài trong số vùng nước ban sơ nhất trên trái đất. Những vùng nước này thường kế cận thác nước cao và rất đục. Hiện tại, chúng không không được phát hiện bên dưới con thác hay trong dòng sông chảy xiết, thay vào đó ở những vùng yên tĩnh hơn, khúc uốn cong của con lạch hay ven bờ, không xa chỗ chảy mạnh. Đây không phải là cá hồ hay nước tĩnh dẫu trên thực tế chúng có thể bị ngăn cách theo mùa khỏi địa bàn thủy vực tự nhiên và được đánh bắt từ các hồ nước nông. Chúng tôi phát hiện thấy altum được đánh bắt từ những “lỗ cá” nông này có tỷ lệ tử vong cao. Đấy là vì cá thường xuyên chịu đựng nhiệt độ cao và điều kiện ô-xy hòa tan thấp. Chẳng may, số altum này thường xuất hiện trên thị trường trước tiên bởi chúng dễ đánh bắt ở vùng vốn tương đối gần nơi đông dân cư với tiện nghi vận chuyển.

    Việc tiến hóa như một loài thích nghi với nguồn nước acid và giàu ô-xy dường như là cách dễ nhất để giải thích cho hệ miễn dịch yếu ớt của P. altum. Nói đơn giản, không có vi sinh hay mầm bệnh vốn tác động đến các loài sống trong vùng nước này. Những điều kiện tự nhiên mà loài này sống là “quá ổn”… hãy xem chúng như ET… Điều đó cũng xảy ra với người da đỏ Indians vốn sống ở nơi mà altum bắt nguồn… họ có thể chết vì một cơn cảm lạnh đơn giản. Và tôi không hề phóng đại.

    Và nên nhớ, P. altum là “cá săn mồi”, loài ăn thịt đích thực, thích ăn tetra và bất kỳ loài cá, giáp xác hay côn trùng nhỏ nào vốn vừa với miệng của mình (kể cả khi không vừa một cách dễ dàng)… đấy là nguồn mà chúng lấy vitamin và khoáng chất… từ thành phần thực vật tiền-tiêu hóa (predigested) trong ruột cardinal tetras (và tương tự)… khẩu phần cơ bản của chúng ngoài tự nhiên.

    Bản năng săn mồi dường như giúp chúng sống sót và duy trì sức khỏe. Thức ăn tươi sống, chuyển động là quan trọng nhất để biệt dưỡng toàn diện cá altum trưởng thành khi bạn sẵn sàng để lai tạo chúng.

    Về tác giả
    Edgar Ruiz sinh ra ở Venezuela, đến Florida khi nhỏ, rồi trở về Venezuela hồi trẻ. Ông học sinh học tại Zulia State University (Maracaibo) từ 1978 đến 1983. Hồi nhỏ, Ed có niềm đam mê nghiên cứu và đánh bắt cá cảnh nhiệt đới ngoài tự nhiên, với yêu thích đặc biệt với các loài ở Orinoco. Mặc dù ông không chính thức thực hiện bất kỳ công trình Sinh học thực địa nào sau khi rời Đại Học, ông đã trải qua 30 năm đi khắp các đại dương, núi non và sông ngòi ở Venezuela để nghiên cứu và sưu tầm cá nhiệt đới.

    Ed làm việc một cách chuyên nghiệp như là nhà phiên dịch và dịch thuật tiếng Anh và Tây Ban Nha và hiện là Điều Phối Viên Dịch Thuật Y Khoa (Medical Interpreter Coordinator) và phiên dịch viên Tây Ban Nha/Anh/Tây Ban Nha tại Bệnh Viện Đại Học Utah (University of Utah Hospital) ở Salt Lake City, Utah. Ed là người đóng góp thường xuyên và administrator của The Angelfish Study Group (TASG) forum trên Finarama website, vốn được xây dựng và duy trì bởi Michelle Ricketts, một thành viên sáng lập của TAS. Vô số thảo luận của Ed và những người khác, những người vốn hết sức hiểu biết về P. altum có thể được tìm thấy trên TASG forum tại: http://www.finarama.com/home.htm.

    Các hình ảnh được cung cấp bởi Dr. Carlos Lopez và nhà sinh học Wilfrido Cabezas, các đồng nghiệp của Ed Ruiz nhiều năm trước đây.
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/9/18

Chia sẻ trang này