Liên hệ quảng cáo: anh Nguyễn Long Khánh (mobile: 0907 707 171 - nick: nlkhanh - email: longkhanh1963@gmail.com)

Tổng quan lịch sử: Sự phát triển các dạng đuôi của Betta splendens

Thảo luận trong 'Bài viết tuyển chọn - cá betta - cá cờ' bắt đầu bởi vnreddevil, 4/6/07.

  1. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Tổng quan lịch sử: Sự phát triển các dạng đuôi của Betta splendens
    Joep van Esch - http://www.bettysplendens.com/an-hi...evelopment-of-betta-splendens-tail-forms.html

    [​IMG]
    R39 ông tổ của toàn bộ cá halfmoon.

    Vào 1849, Theodor Cantor xuất bản một bài viết về một loài cá chọi mà ông gọi là Macropodus pugnax [1, 2]. Vào 1909, C. Tate Regan phát hiện ra rằng Cantor đã nhầm lẫn và rằng pugnax vốn là một loài họ hàng hiện hữu. Regan đổi tên loài cá chọi của Cantor thành cái tên quen thuộc hiện nay, Betta splendens.

    Tất cả dạng lai tạo phổ biến được biết hiện nay của Betta splendens đều bắt nguồn từ cá hoang dã đuôi ngắn (plakat). Dạng cá đuôi ngắn được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ bởi người dân ở Thái Lan. Người Thái lai tạo cá chọi từ betta hoang dã. Mục đích chính của họ là phát triển bản năng chiến đấu, độ bền (hardiness), kích thước, lối đá (fighting style) và màu sắc. Việc tuyển chọn của các nhà lai tạo được thực hiện bằng cách tổ chức những trận đấu với cá betta của các nhà lai tạo khác. Con thắng trận trở thành cá giống (model) cho các chiến binh của thế hệ sau.

    Bởi vì sự chọn lọc tự nhiên không thể hiện ở đây, nên sau nhiều thế hệ cá betta nảy ra dạng đuôi và vây lưng hơi dài hơn. Những con cá này thiếu “tinh thần chiến đấu” mong đợi bởi vì chúng bớt hung dữ hơn và không thể di chuyển nhanh nhẹn như các anh em họ đuôi-ngắn của mình. Loại cá betta đuôi dài này giờ đây chỉ được cản theo vẻ đẹp của chúng. Có lẽ dạng cá này đã xuất hiện sẵn khi nhiều người Âu và Mỹ đến vùng Đông Nam Á (1850). Khoảng 1960, những nhà lai tạo ở Ấn Độ đã thành công trong việc lai tạo cá betta với hai thuỳ đuôi, cái-gọi-là cá đuôi kép (doubletail). Một đặc điểm điển hình của những con cá này là vây lưng cực rộng và thân hơi ngắn hơn. Có lẽ người ta muốn loại bỏ đặc điểm sau bằng cách cản cá đuôi kép với cá đuôi đơn bình thường. Các nhà lai tạo nhận thấy cá con của những bầy này có một dạng vây lưng và đuôi được cải thiện.

    [​IMG]
    CHENMASWIL halfmoon “CÁ ĐẸP NHẤT” Triển Lãm IBC ở Tampa, Florida 1993.

    Dần dần, thú chơi cá cảnh trở nên thịnh hành hơn ở châu Âu và châu Mỹ. Châu Á phản ứng với điều này bằng việc cản đại trà Betta splendens đuôi dài trong các trại lai tạo lớn. Bấy giờ, các tay chơi ở châu Âu và châu Mỹ bắt đầu tuyển chọn số cá này nhằm thu được những đặc điểm nhất định ở cá của mình. Vào 1960, một nhà lai tạo Mỹ, Warren Young, thành công trong việc cản cá betta với vây cực dài. Young gọi những con betta này là “Libby” theo tên vợ ông. Những con cá này được bán cho người chơi trên toàn thế giới và cho cả các trang trại ở châu Á. Chính phát triển này dẫn đến loại đuôi voan (veiltail) rất phổ biến hiện nay.

    Khoảng cùng thời điểm, một nhà lai tạo người Đức, Dr. Eduard Schmidt-Focke, cản ra con betta đuôi delta đầu tiên. Một con betta với dạng đuôi tam giác đối xứng (symmetrical triangular). Vào 1967 ở Mỹ, Hội Đồng Betta Quốc Tế (International Betta Congres – hay IBC) được thành lập. IBC có mục đích lai tạo Betta splendens với vây rộng đối xứng thay vì dài. Việc này dẫn đến những con cá với khả năng bơi lội tốt hơn. Nhưng vẫn mất một thời gian dài trước khi các dạng đuôi khác, mà hiện quá quen thuộc được phát triển. Vào 1980, một số nhà lai tạo betta người Mỹ nổi tiếng như Peter Göettner và Paris Jones phát triển loại đuôi superdelta vốn là những con betta với bộ vây khủng (enormous). Vào 1984, người Pháp Guy Delaval nhập hậu duệ của những con cá này về Pháp. Delaval đã lai tạo và tuyển chọn những con cá này để thu được góc đuôi lớn hơn. Vào 1987, ông đã thành công trong việc lai tạo cá với góc đuôi 180 độ. Rajiv Massilamoni nhận ra rằng Delaval đã làm được điều vốn được cho là không thể. Đến lúc đó, hầu hết Betta splendens đều là loại delta hay superdelta bất đối xứng với góc xòe tối đa 160 độ. Laurent Chenot và Rajiv Massilamoni bắt đầu hợp tác nhằm duy trì loại đuôi này. Họ cố cản những con cá này nhưng chúng bị cận huyết (inbred) quá nhiều. Cá đực không làm tổ nữa và cũng không biết cuộn quanh mình cá cái. Sau nhiều nỗ lực pha chúng với Betta splendens hàng chợ (petstore) và những dòng khác, Chenot và Massilamoni sau cùng cản tiếp một con vốn có mẹ từ Delaval và cha là đuôi kép melano từ một dòng ở Mỹ. Con cá này được gọi là R39, và được ghép với tất cả cá cái từ các dòng của Chenot và Massilamoni. Một lần nữa, vài con với góc xoè 180 độ lại xuất hiện. Vào 1991, nhà lai tạo Mỹ, Jeff Wilson, thấy những con cá này và gọi chúng là “halfmoon” [bán nguyệt]. Ông bắt đầu hợp tác với Chenot và Massilamoni, và việc lai cận huyết dòng cá Mỹ dẫn tới sự xuất hiện của cá halfmoon trong bầy thường xuyên hơn. Vào 1993, Chenot, Massilamoni và Wilson trưng bày cá halfmoon của mình tại triển lãm IBC tại Tampa, Florida dưới tên CHENMASWIL. Họ đã đoạt giải “Cá Đẹp Nhất” (Best of Show). Điều này là khởi đầu cho một cơn sốt halfmoon thực sự.

    Khoảng 5-10 năm nay, một dạng đuôi khác được phát triển. Một nhà lai tạo Indonesia, Ahmad Yusuf, đã trình làng cá đuôi tưa (crowntail). Ở đây, các tia vây kéo dài ra ngoài mép vây. Đây là lý do vây có bề ngoài “như-lược” (comb-like) (và cũng được gọi là tính trạng đuôi lược).

    [​IMG]

    Nhưng sự phát triển của các loại đuôi khác nhau vẫn đang tiếp diễn. Mọi người trên khắp thế giới vẫn đang nỗ lực phát triển cá halfmoon và đuôi tưa với góc xoè (spread) và dạng đuôi (tailform) tốt hơn. Trong lai tạo halfmoon, điều này đã dẫn đến sự phát triển của cá halfmoon với phân nhánh tia vây khác nhau (halfmoon 4-, 8- và 16-tia). Phân nhánh càng nhiều thì đuôi càng được hỗ trợ (support) tốt khi xoè (spreading). Hỗ trợ này là đặc biệt quan trọng khi cá già hơn hay vây của chúng dài hơn. Những phát triển khác trong lai tạo halfmoon là overhalfmoon, mà nó có một góc xoè vốn lớn hơn 180 độ, và halfmoon đuôi hoa (rosetail).

    Cũng trong việc lai tạo cá đuôi tưa, điều này dẫn đến những biến thể khác nhau với số lượng tia vây khác nhau mà chúng không những ảnh hưởng đến số lượng của độ giãn tia (extensions) (CT tia đơn, tia đôi, tia tam và tia hai-đôi) mà còn ảnh hưởng đến sự hỗ trợ và việc xoè đuôi.

    Tài liệu:

    1. Gonella, H., Masillamoni, R., "Kampffische", bede-Verlag GmbH, ISBN 3-931 792-22-6
    2. Wolfsheimer, G., "Siamese Fighting Fish", T.F.H. Publications, Inc., ISBN 0-7938-0352-7
    3. Siamese fighting fish webpage, http://www.plakatthai.com/index.html
    4. You've come a long way betta, http://www.bettadreams.com/history.html
    5. Pictures of fish bred by Markus Gutzeit & Rajiv Massilamoni, http://people.freenet.de/halbmondbetta/markus.htm
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/9/17

Chia sẻ trang này