Liên hệ quảng cáo: anh Nguyễn Long Khánh (mobile: 0907 707 171 - nick: nlkhanh - email: longkhanh1963@gmail.com)
Cach tri nam da mat hiệu quả | Kem chong lao hoa da nhanh nhất | Trị vết thâm mụn trên mặt | Trẻ đi ngoài nên ăn gì? | Thuc an giau chat xo tự nhiên | Táo bón ở trẻ em phải làm sao? | Trị trẻ biếng ăn, kén ăn | Cách trị trẻ biếng ăn hiệu quả | Cách Chăm sóc da sau đi biển về | Mẹo Phân biệt sởi và sốt phát ban thế nào | Khử mùi hôi vùng kín nhanh | Thuc pham tot cho ba bau nên ăn | Axit folic cho bà bầu | Bà bầu nên ăn gì tốt nhất | Bổ sung canxi cho bà bầu đầy đủ | Chuyển nhà sinh viên giá rẻ | Chuyen nha Ha Noi uy tín | Giá chuyen nha Kien Vang trọn gói | chuyen nha tron goi Hà Nội | Công ty dược phẩm là gì? | Quần áo bảo hộ lao động | Xưởng in tem nhãn giá rẻ tại Hà Nội |

Macropodus hongkongensis FREYHOF & HERDER, 2002

Thảo luận trong 'Bài viết tuyển chọn - cá betta - cá cờ' bắt đầu bởi vnreddevil, 31/7/18.

  1. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Macropodus hongkongensis FREYHOF & HERDER, 2002
    Cá Cờ Đen Hongkong (香港黑叉尾鬥魚 – Hương Cảng Hắc Xoa Vĩ Đấu Ngư)

    https://www.seriouslyfish.com/species/macropodus-hongkongensis/

    Từ nguyên
    Macropodus: từ tiếng Hy Lạp Cổ μακρός ‎(makrós), nghĩa là ‘dài’, và ποδός ‎(podós), nghĩa là ‘bàn chân, chân’, khi đề cập đến vây bụng dài ở các thành viên thuộc chi.

    hongkongensis: tên của Hong Kong, địa bàn chuẩn của loài.

    Phân loại
    Bộ: Perciformes, Họ: Osphronemidae

    Phân bố
    Vào 1996 loài được phát hiện ở năm địa điểm tại Hong Kong, nhưng ít nhất một trong năm chỗ này đã bị phá hủy và nó hiện được biết chỉ còn tại các quận Đại Bộ (Tai Po大埔) và Tây Cống (Sai Kung西貢). Những quần thể nữa lần lượt được phát hiện ở các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến về phía nam Trung Quốc.

    Địa bàn chuẩn là ‘Trung Quốc: Hong Kong: Đại Bộ: Sa La Động (Sha Lo Tung沙羅洞)’.

    Địa bàn
    Từng được thu thập từ cả suối núi (mountain hill stream) lẫn vùng trũng (lowland), đôi khi môi trường nông nghiệp. Rõ ràng thể hiện sự ưa chuộng địa bàn nước nông với cây thủy sinh rậm rạp và dòng chảy nhẹ.

    Chiều dài chuẩn tối đa
    60 – 70 mm.

    Kích thước hồ nuôi
    Hồ với kích thước 80 x 30 cm hay tương đương là tối thiểu cho một cặp.

    Nuôi dưỡng
    Có thể nuôi trong một hồ được trang trí-đầy đủ dẫu nhiều nhà lai tạo thích không sử dụng đáy nền để dễ bảo trì.

    Rễ và nhánh lũa có thể được sử dụng và đặt sao cho vài chỗ có bóng râm được tạo ra, trong khi một số thực vật nổi hay bề mặt nên được đưa vào nếu mục đích là để ép cá (xem ‘Sinh sản’).

    Việc bổ sung vụn lá khô nhấn mạnh hơn nữa cảm giác tự nhiên cũng như bổ sung nơi trú ẩn kéo theo nó sự phát triển của quần thể vi sinh vốn có thể cung cấp nguồn thức ăn giá trị cho cá bột.

    Điều kiện nước
    Nhiệt độ: 15 – 25 °C

    pH: 6.0 – 8.0

    Độ cứng: 90 – 357 ppm

    Khẩu phần
    Thích săn ấu trùng côn trùng và những thứ tương tự như ngoài tự nhiên, và nên được cho ăn bo bo (Daphnia) đông lạnh hay tươi sống, Artemia, trùn trắng (white worm), trùn kim (grindal worm) v.v. trong môi trường hồ nuôi. Một số đồ ăn khô chất lượng cao cũng có thể được chấp nhận.

    Hành vi và sự tương thích
    Cá hình dạng-tương tự nên tránh, nhưng có thể nuôi chung với những loài bầy đàn hiền hòa với đòi hỏi môi trường tương đương.

    Cá đực hung dữ về bảo vệ lãnh thổ, hành vi này trở nên rõ rệt trong giai đoạn sinh sản, và không nên nuôi chung với nhau trừ phi hồ thật rộng. Cũng nên cung cấp hai cá mái hay nhiều hơn cho mỗi con đực nhằm phân tán sự chú ý của nó.

    Nhị hình giới tính
    Cá đực lớn hơn cá cái và sở hữu các tia vây mềm kéo dài ở vây lưng, vây hậu môn và đuôi.

    Sinh sản
    Loài làm tổ bọt. Nước mềm với nhiệt độ hơi cao nghe nói là để dẫn dụ hành vi sinh sản.

    Hồ phải có nắp vừa-khít có thể (một số nhà lai tạo sử dụng màng co) bởi vì cá bột cần thâm nhập lớp không khí ẩm, ấm áp, mà nếu không có nó, sự phát triển của mê lộ (labyrinth) có thể bị lệch lạc.

    Cặp cá không cần phải phân tách trước khi sinh sản. Cá đực có xu hướng xây tổ bọt của mình bên trong một bè thực vật thủy sinh nổi, và cá cái thường ưng thuận vào giai đoạn này. Một khi tổ bọt được hoàn thành, cá đực thể hiện với bạn tình tiềm năng bằng việc sử dụng vây lưng, vây hậu môn và đuôi dài thậm thượt của mình.

    Cá cái trở nên nhạt màu hơn. Việc sinh sản thường diễn ra bên dưới cái tổ theo kiểu ‘ôm ấp’ điển hình của các loài thuộc họ tai tượng (osphronemids), với cá đực quấn xung quanh cá cái.

    Vào lúc đỉnh điểm, tinh dịch (milt) và một số trứng được phóng thích. Thứ sau bao gồm một giọt dầu và nhẹ hơn nước, do đó chúng nổi lên tổ, thường được hỗ trợ bởi cá đực. Rồi quá trình được lặp lại cho đến khi cá cái kiệt sức, với nhiều trăm trứng được đẻ nói chung.

    Sau-sinh sản, cá trưởng thành có thể được để yên như bình thường. Cá cái thường được chấp nhận bởi cá đực và thậm chí có thể đóng một vai trò tích cực trong việc bảo vệ khu vực xung quanh tổ khỏi những kẻ xâm nhập.

    Một khi trứng nở, cá bột ở yên trên tổ cho đến khi túi noãn được hấp thu-hết. Khi chúng bắt đầu bơi tự do, cá đực thường không ăn thịt con mình.

    Cần thức ăn cỡ-trùng cỏ (infusoria-grade) trong vài ngày đầu tiên, sau đó chúng có thể chấp nhận thức ăn chuyển động như trùn cám (microworm) và ấu trùng Artemia. Việc thay nước nên ít và thường xuyên thay vì nhiều và thỉnh thoảng.

    Ghi chú
    Loài này thỉnh thoảng có sẵn trên thị trường cá cảnh.

    Nó có thể được phân biệt với đồng loại (congeners) bởi sự kết hợp của những đặc điểm sau: đuôi chĩa (forked); [viền sau của] đốm nắp mang sẫm [có thể xanh] màu nâu nhạt hay vàng; mặt trên của đầu với các đốm đen; vùng trước vây lưng với 3-5 mảng yên-ngựa (saddle-like blotches) nâu sẫm; chóp sau hay viền của vảy ở đầu và thân sậm hơn hẳn so với [mặt] vảy, nhưng không ở đầu và vùng trước vây lưng; chóp của tia trước vây bụng trắng; các đốm và vạch (bars) trên vây lưng và màng đuôi đỏ.

    Như những loài khác thuộc phân bộ Anabantoidei, loài này sở hữu một bộ phận hỗ trợ thở (accessory breathing) được gọi là mê lộ (labyrinth), vốn cho phép cá hít thở không khí ở một mức độ nhất định. Bao gồm cả cặp mang phụ (suprabranchial) hình thành qua sự kéo dãn của phần mang trên (epibranchial) của cung mang đầu tiên và nằm ở một khoang phía trên mang, nó có nhiều nếp da gấp, giàu-mao mạch vốn vận hành như một bề mặt trao đổi khí rộng. Cấu trúc của nó thay đổi về mức độ phức tạp tùy loài, có xu hướng phát triển hơn ở những loài cư ngụ trong môi trường khắc nghiệt hơn.

    Tham khảo
    1. Freyhof, J. and F. Herder , 2002 - Ichthyological Exploration of Freshwaters 13(2): 147-167
    Review of the paradise fishes of the genus Macropodus in Vietnam, with description of two new species from Vietnam and southern China (Perciformes: Osphronemidae).
    2. Chan, B. P. L., D. Dudgeon and X. Chen, 2008 - Environmental Biology of Fishes 81: 367-368
    Threatened fishes of the world: Macropodus hongkongensis Freyhof and Herder, 2002 (Osphronemidae).
    3. Paepke, H-J., 1994 - Neue Brehm Bücherei 616, Westarp Wissenschaften, Magdeburg: 1-144
    Die Paradiesfische.
    4. Winstanley, T. and K. D. Clements, 2008 - Zootaxa 1908: 1-27
    Morphological re-examination and taxonomy of the genus Macropodus (Perciformes: Osphronemidae).

    [​IMG]
    Cá thể đực trưởng thành. © Zhou Hang

    [​IMG]
    Địa bàn ở Tân Giới (New Territories), Hong Kong. © Herve Gonin

    [​IMG]
    Cá thể hoang dã mới bắt được. © Zhou Hang

    [​IMG]
    Địa bàn ở Tân Giới (New Territories), Hong Kong. © Herve Gonin

    [​IMG]
    Cá đực non trưởng thành. © H-J Chen

    [​IMG]
    Cá non trưởng thành trong hồ nuôi. © Herve Gonin


    ===============================================


    Ghi chú

    *Nhân nói về cá cờ Hongkong, người Trung Quốc gọi cá cờ bằng nhiều tên khác nhau như Trung Quốc Đấu Ngư中国斗鱼, Xoa Vĩ Đấu Ngư叉尾斗鱼, Thố Tử Ngư 兔子鱼, Thiên Đường Ngư天堂鱼. Ngoài ra còn nhiều cách gọi tắt như Xoa Vĩ尾, Viên Vĩ圆尾, Lam Xoa蓝, Hắc Xoa黑叉, Tráng Hắc壮黑, Việt Hắc越黑.

    *Nhìn chung, cá cờ đen Hongkong nhỏ con hơn nhưng chịu lạnh tốt hơn cá cờ đen Huế. Người chơi ghi nhận cá cờ đen Hongkong đôi khi có sọc. Đặc điểm dễ nhận diện nhất là kỳ trắng.

    *Cá cờ đen Hongkong ở Thâm Quyến, Quảng Đông: Cuộc săn lùng loài cá cờ đen Hongkong

    *Dưới đây là mô tả về cá cờ đen Hongkong trên một trang mạng của Trung Quốc “Cơ bản về Trung Quốc Đấu Ngư”. Tác giả cũng đề cập đến Tráng Gia Hắc Xoa, một biến thể được cho là thuộc loài Macropodus spechti ở khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, giáp biên giới Việt Nam (Liao Hanbo, Lu Guangzhou, 2010). Quan sát của chúng tôi cho thấy có vài điểm khác biệt quan trọng. Chúng bao gồm các đốmvệt yên-ngựa trên đầu và vùng trước lưng (như cá cờ đen Hongkong), hiện diện của màu đỏ trên các vây lẻ (như cá cờ lưng-đỏ) và các biến thể màu thân khác biệt (đồng đỏ lam và lục) gợi ý rằng đây có thể là một loài riêng.

    Giới thiệu về Cá Cờ Đen Hong Kong (Hương Cảng Hắc Xoa Đấu Ngư香港黑叉斗鱼)
    Cá cờ đen Hong Kong thường bị nhầm với cá cờ đuôi-đen (hắc xoa vĩ đấu ngư黑叉尾斗鱼) vốn xuất xứ từ Việt Nam. Nó được tái phát hiện ở Hong Kong vào 1999 và sau này được xác nhận là một loài mới vào 2002. Đặc điểm chính: 15 sọc đen-xám, một số không có. Tia vây bụng đầu tiên màu trắng, với các đốm trên đầu. Có 2 đến 5 mảng yên-ngựa ở vùng trước vây lưng và đốm xanh ở nắp mang.

    Vùng phân bố của cá cờ đen Hong Kong là lưu vực sông Châu 珠江 thuộc tỉnh Quảng Đông, về phía tây tỉnh Phúc Kiến, về phía tây nam lên phía bắc của con sông, và về Khâm Châu (Qinzhou), Phương Thành (Fangcheng) và Thượng Tứ (Shangsi) ở phía nam Khu Vực Tự Trị Tráng Tộc Quảng Tây [vùng tự trị của người Choang]. Cá cờ đen Hong Kong lần đầu được phát hiện bởi nhà nghiên cứu Lâm Chiêu (Lin Zhao林钊) ở Hong Kong vào đầu những năm 1980. Ông tin rằng cá cờ đen Hong Kong và cá cờ đen Việt Nam là một. Cá cờ đen Hong Kong lần đầu được đặt tên Latin [hồi đó là Macropdus concolor Ahl, 1936].

    [​IMG]

    Hầu hết cá cờ đen Hong Kong cư ngụ khá gần các dòng suối núi, bởi địa bàn khác biệt dẫn đến một số kiểu hình địa phương khác nhau. Vùng phân bố của cá cờ đen Hong Kong ở miền nam Trung Quốc trùng với vùng phân bố của cá cờ sọc thông thường, nhưng cá cờ đen Hong Kong sống chủ yếu nơi các dòng suối núi, trong khi cờ sọc sống chủ yếu ở kênh ruộng. Chúng phân bố bổ trợ trong cùng một khu vực. Một tình trạng thú vị [điều tương tự cũng được ghi nhận ở sông Thu Bồn, Quảng Nam khi cá cờ sọc ở ruộng trong khi cá cờ đen sống ở thượng nguồn].

    Cá cờ đen Hong Kong có rất nhiều tên, thường được đặt theo nơi phát hiện, riết thành thông dụng. Chẳng hạn như Thâm Quyến Hắc Xoa, được phát hiện tại thành phố Thâm Quyến, Phật Sơn Hắc Xoa được phát hiện tại Phật Sơn (Foshan). Tùy theo nơi xuất xứ, tên cũng khác nhau, chẳng hạn Thâm Quyến, Tân Hội (Xinhui), Mai Châu (Meizhou), Trung Sơn (Zhongshan), Khâm Châu (Qinzhou), Đông Hưng (Dongxing) v.v.

    [​IMG]
    Thâm Quyến Hắc Xoa (Thâm Quyến Bộc Châm爆針)

    [​IMG]
    Sán Đầu (Shantou) Hắc Xoa

    [​IMG]
    Mai Châu Hắc Xoa

    Tráng Gia Hắc Xoa 壮家黑叉, Tráng Hắc “壮黑”
    Cá cờ đen vốn phân bố ở vùng biên giới Trung-Việt ở tây nam Quảng Tây, là biến thể địa phương của Việt Nam Hắc Xoa (Macropodus spechti) [?]. Người chơi cá trong nước giữ dòng gọi là “Tráng Gia Hắc Xoa” này, còn gọi là “Tráng Hắc”. Tráng Hắc có đuôi dài, màu thân đẹp và đuôi rộng, vốn khác với cá cờ đen Việt Nam ở lưu vực sông Hồng [sai]. Biến thể địa phương Tráng Hắc độc đáo này gắn bó mật thiết với địa bàn tự nhiên, bởi vì nguồn gốc của chúng là cao nguyên đá vôi, và các vực nước cao 400 đến 800 mét so với mực nước biển. Chất lượng nước của những núi đá vôi này tương đối trong và lạnh. Nhiệt độ hằng năm cũng mát mẻ và trong lành hơn. Điều này hoàn toàn không giống với những vùng khác ở miền nam Trung Quốc và lưu vực sông Hồng ở Bắc Việt, bởi vậy nó đủ khiến cho sự tiến hóa của Tráng Hắc so với Việt Hắc được hoàn toàn thuận lợi, và tạo ra màu bảo thạch lam (宝石蓝) và huỳnh quang lục (荧光绿). Đặc điểm thân màu đỏ đồng ngả lạnh và dài trở nên càng đẹp và hấp dẫn hơn.

    [​IMG]
    Tráng Gia Hắc Xoa 壮家黑叉, Tráng Hắc “壮黑”

    *Tham khảo bài viết về Tráng Gia Hắc Xoa của các tác giả Liao Hanbo & Lu Guangzhou (2010) tại đây (click vào hình):
    [​IMG]
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/8/18
  2. dthong

    dthong Moderator

    có người quen ở Bồng Sơn, Bình Định cho biết cá lia thia ở đây là loại sọc, nhưng có loại đen ở núi gọi là lia thia than . Nghe nói ở Bắc cũng có nơi có cá đen . Có lẽ cá cờ đen thích sống chỗ nào có núi non . Tuy nhiên có 1 số vùng cao như Sapa, Lâm Đồng là cá sọc .
     
    vnreddevil thích bài này.

Chia sẻ trang này