Liên hệ quảng cáo: anh Nguyễn Long Khánh (mobile: 0907 707 171 - nick: nlkhanh - email: longkhanh1963@gmail.com)
Cach tri nam da mat hiệu quả | Kem chong lao hoa da nhanh nhất | Giá bọc răng sứ Ceramill thẩm mỹ | Trẻ đi ngoài nên ăn gì? | Thuc an giau chat xo tự nhiên | Web https://chothuetaxitai.com/ Hà Nội | Trị trẻ biếng ăn, kén ăn | Cách trị trẻ biếng ăn hiệu quả | Cách Chăm sóc da sau đi biển về | Mẹo Phân biệt sởi và sốt phát ban thế nào | Đại lý thu mua phế liệu giá cao Hà Nội | Thuc pham tot cho ba bau nên ăn | Axit folic cho bà bầu | Bà bầu nên ăn gì tốt nhất | Bổ sung canxi cho bà bầu đầy đủ | Chuyển nhà sinh viên giá rẻ | Chuyen nha Ha Noi uy tín | học bằng lái xe ô tô giá rẻ | mua phế liệu sắt vụn nhôm đồng | chup anh cuoi giá rẻ | Quần áo bảo hộ lao động | Xưởng in tem nhãn giá rẻ tại Hà Nội |

Nhóm splendens

Thảo luận trong 'Bài viết tuyển chọn - cá betta - cá cờ' bắt đầu bởi vnreddevil, 10/6/07.

  1. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Nhóm splendens

    Chi cá (genus) Betta bao gồm khoảng gần bảy chục loài phân bố ở vùng Đông Nam Á. Bởi vì các loài betta hoang dã rất đa dạng về màu sắc, hình dạng, phân bố và tập quán nên người ta phân chúng thành nhiều nhóm khác nhau. Trong khi việc phân biệt giữa các nhóm khá dễ dàng thì phân biệt giữa các loài trong một nhóm lại khó khăn bởi những khác biệt về hình thái là rất nhỏ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung vào nhóm cá betta quen thuộc với mọi người nhất – nhóm splendens (splendens complex). Nhóm splendens là nhóm cá rất quan trọng vì chúng được coi là tổ tiên của tất cả các loại betta cảnh hiện đại mà chúng ta thấy ngày nay. Nhóm này bao gồm các loài sau:

    *Betta splendens Regan, 1910: loài bản địa ở lưu vực sông Mekong, phân bố rộng bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (các quần thể lia thia mang đỏ ở Việt Nam đã được tái xác định là Betta siamorientalis vào 2017). Đặc điểm: sọc đỏ trên nắp mang.

    *Betta imbellis Ladiges, 1975: phân bố ở Thái Lan, Malaysia, Sumatra (Indonesia), Việt Nam và được giới thiệu vào cả Singapore. Đặc điểm: sọc xanh trên nắp mang, còn gọi là lia thia mang xanh. (Quần thể Betta cf. imbellis ở Phú Quốc có đốm đen trên đuôi tương tự B. smaragdinaB. stiktos).

    *Betta smaragdina Ladiges, 1972: loài bản địa ở cao nguyên Khorat, đông bắc Thái Lan và một số nhánh sông Mekong ở Trung Lào. Đặc điểm: đốm ánh kim đặc trưng trên thân, các sọc ánh kim và chấm nhỏ đặc trưng trên vây. Biến thể guitar có vây lớn và sọc ngang như phím đàn hoặc mạng nhện.

    [​IMG]
    Betta splendens (http://www.pinterest.com).

    [​IMG]
    Betta imbellis (http://www.seriouslyfish.com).

    [​IMG]
    Betta smaragdina biến thể thường (ảnh Lê Hiếu).

    [​IMG]
    Betta smaragdina biến thể Guitar với những sọc ngang trên vây như phím đàn.

    *Betta stiktos H. H. Tan & P. K. L. Ng, 2005: địa bàn chuẩn là các dòng chảy nhỏ từ Stung Treng đến Ban Lung, khoảng 3/4 đến cầu bắc qua Tonle Srepok. Đặc điểm: đốm đen đặc trưng trên các vây lẻ. Loài rất giống và quan hệ rất gần với Betta smaragdina.

    [​IMG]
    Betta stiktos hoang dã.

    [​IMG]
    Cá lai (stiktos hybrid) đoạt chức vô địch một cuộc thi ở Thái Lan, 2017.

    *Betta mahachaiensis Kowasupat, Panijpan, Ruenwongsa & Sriwattanarothai, 2012: phân bố ở vùng Mahachai, cách Bangkok khoảng 20 km. Loài vốn được biết đến từ lâu trong thú chơi và có ý kiến cho rằng chúng là lai tạp. Nhưng vào năm 2012, chúng được công nhận là loài chính thức. Đặc điểm: đốm ánh kim lớn trên thân, các sọc ánh kim đặc trưng trên vây.

    *Betta siamorientalis Kowasupat, Panijpan, Ruenwongsa & Jeenthong, 2012: phân bố ở các tỉnh đông Thái Lan gồm Chachoengsao, Sa Kaeo, Prachin Buri và Chon Buri cùng với tỉnh Banteay Meanchey ở tây Cambodia (giáp giới Sa Kaeo). Đặc điểm: thân rất đen và ít ánh kim, mang đỏ hoặc đen. Tuy nắp mang cũng đỏ như Betta splendens, loài lại có quan hệ gần với Betta imbellis hơn qua phân tích DNA. Rất giống balck imbellis khi cả hai có mang đen thui. (Theo bạn Lê Hiếu, vào 2017 nhà ngư loại học Đức, Jürgen Schmidt, khảo sát các quần thể lia thia mang đỏ ở Việt Nam và xác định qua phân tích DNA là loài Betta siamorientalis chứ không phải là Betta splendens như nhận định trước đây).

    [​IMG]
    Mẫu vật chuẩn của loài Betta mahachaiensis (http://novataxa.blogspot.com)

    [​IMG]
    Mẫu vật chuẩn của loài Betta siamorientalis (http://novataxa.blogspot.com)

    *Dr. Gene Lucas, người bỏ cả đời nghiên cứu cá betta, có quan điểm trái chiều về các loài betta hoang dã. Theo ông, những loài trong nhóm splendens (complex) là các biến thể thuộc về cùng một loài Betta splendens mà thôi. Lý do là các loài có thể pha (cross) lẫn nhau. Trên thực tế, người ta ghi nhận việc pha với Betta mahachaiensis hơi khó khăn, điều chứng tỏ rằng loài này tiến hóa khá xa so với số còn lại.

    *Loài thuần chủng lại là một vấn đề khác. Hoạt động đá cá hoang dã thúc đẩy việc lai tạp (hybrid) cá hoang dã với cá thuần dưỡng, vốn có nguồn gốc pha tạp lâu đời. Số cá lai tạp này lại được thả về môi trường bán tự nhiên như ao, hồ để giấu giếm thân phận cá lai (lai biệt dạng). Không gì đảm bảo số cá này không thoát ra ngoài và nhiễm vào nguồn gien hoang dã. Hậu quả, loài thuần chủng đúng nghĩa gần như biến mất khỏi môi trường tự nhiên!

    [​IMG]
    So sánh hình thái đầu của các loài (http://novataxa.blogspot.com).

    Bảng liệt kê về các đặc điểm của mỗi loài (theo Nonn Panitvong):
    Đặc điểmBetta splendensBetta imbellisBetta smaragdinaBetta mahachaiensis
    Nắp mang2 vạch đỏ2 vạch lụcVảy xanh bao phủ gần hết nắp mang2 vạch lục/lam
    ThânBình thườngBình thườngDài hơn hai loài đầuDài hơn hai loài đầu
    Tia vây bụng (kỳ) đầu tiênĐen chóp trắngĐen chóp trắngĐen chóp trắngLục/lam chóp trắng
    Màu đuôiLam & đỏ. Viền đỏ. Không chấm đenLam & đỏ. Viền đỏ. Không chấm đenLam & đỏ. Không viền đỏ. Một số quần thể có chấm đenLam & đỏ. Không viền đỏ. Thường có chấm đen
    Vây lẻBình thườngBình thườngLớn hơn hai loài đầuLớn hơn hai loài đầu

    (dường như Nonn Panitvong lẫn lộn về đặc điểm chấm đen ở đuôi. Chấm đen thường xuất hiện ở Betta smaragdina, còn Betta mahachaiensis chỉ thỉnh thoảng mới có chấm đen)

    *Nhiều người hiện đang bán các biến thể copper như là một loại hoang dã (wild type) đích thực! Chẳng hạn copper imbellis, copper mahachai và rất phổ biến gần đây là copper smaragdina. Điều này có đúng không? Hãy quay lại kiến thức về cá betta ánh kim (thuần dưỡng) với ba loại màu cơ bản: lục (Bl), thép (bl) và lam (kết hợp của lục và thép, Blbl). Nên nhớ rằng xanh thép (bl) là một đột biến màu, chỉ hiện diện ở cá thuần dưỡng. Copper là kết hợp của xanh thép (blbl) với gien hoang dã (++). Cá hoang dã chỉ có một màu duy nhất: màu xanh lục (Bl). Một khi bạn nhìn thấy màu copper, tức có sự hiện diện của xanh thép (bl), nghĩa là loài “hoang dã” đã được “lai biệt dạng” với cá thuần dưỡng. Đấy là cá lai (hybrid), không phải cá hoang dã.

    [​IMG]
    Copper smaragdina (KaKachiippo Betta online shop - http://www.aquabid.com)

    *Một thống kê của bạn Lê Hiếu:
    *Một nghiên cứu (2014) về phân bố của Betta smaragdina hé lộ quan hệ huyết thống giữa các loài trong nhóm splendens (trên) và hình minh họa của Joep van Esch (dưới):
    [​IMG]
    [​IMG]

    Trong bài viết của mình “Dragon - Một thời đại mới trong thế giới betta lấp-lánh”, Victoria Parnell đề cập đến những khó khăn trong việc lai tạp Betta splendens x Betta mahachaiensis, cho rằng cả hai “đã tiến hóa tách biệt hơn với nhau?”. Nghiên cứu ở đây cho thấy cả hai gần gũi về mặt di truyền hơn bất kỳ loài nào khác trong nhóm splendens. Có lẽ môi trường hay điều kiện nước đóng vai trò quyết định bởi Betta mahachaiensis thích nghi với các đầm lầy nước lợ ở vùng Mahachai, ngoại ô Bangkok. Khi ép, người ta bổ sung muối theo tỷ lệ nửa muỗng cà phê mỗi gallon (3.8 lít).

    Tài liệu tham khảo

    Betta splendens Regan, 1910 - Rainboth, W.J., 1996. Fishes of the Cambodian Mekong. FAO species identification field guide for fishery purposes. FAO, Rome, p. 215
    Betta smaragdina Ladiges, 1972 - Betta smaragdina nov. spec., Aquarien und Terrarien-Zeitschrift 25(6): 190-191
    Betta imbellis Ladiges, 1975 - Betta imbellis nov. spec., der Friedliche Kampffisch. D. Aqu. u. Terr. Z. (DATZ)28 (8): 262–264
    Betta stiktos H. H. Tan & P. K. L. Ng, 2005 - The fighting fishes (Teleostei: Osphronemidae: genus Betta) of Singapore, Malaysia and Brunei. Raffles Bulletin of Zoology Suppl. 13: p.95
    Betta mahachaiensis Kowasupat, Panijpan, Ruenwongsa & Sriwattanarothai, 2012 - Betta mahachaiensis, a new species of bubble-nesting fighting fish (Teleostei: Osphronemidae) from Samut Sakhon Province, Thailand
    Betta siamorientalis Kowasupat, Panijpan, Ruenwongsa & Jeenthong, 2012 - Betta siamorientalis, a new species of bubble-nest building fighting fish (Teleostei: Osphronemidae) from eastern Thailand
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/3/20
  2. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Một cuốn sách về betta hoang dã bằng tiếng Thái (click vô hình để xem):

    [​IMG]
     
  3. linhsamasa

    linhsamasa Active Member

    Bài viết quá tuyệt vời, rất cảm ơn anh
     
    vnreddevil thích bài này.
  4. rin

    rin Active Member

    em tìm cuốn này mãi :( cám ơn anh
     
  5. thuctoan

    thuctoan Active Member

    vậy con betta trong cái avatar mik là cá lai tạo hả mọi người
     
  6. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Lia thia mang đỏ và mang xanh Việt Nam với chóp vây hậu môn "sắc sảo". Chưa kể lưng và đầu hoàn hảo, đúng chất cá hoang. Đặc điểm khá hiếm ở cá Thái, rất đáng để lai tạo vào các dòng hoang dã ngoại nhập.

    [​IMG]

    [​IMG]
     
  7. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Về tên khoa học của cá lia thia mang đỏ

    Betta siamorientalis trở nên thông dụng vài năm gần đây trong giới betta hoang dã, một số bạn bắt đầu áp dụng tên này cho cá lia thia mang đỏ. Việc điều chỉnh của chúng tôi trên diễn đàn dựa vào thông tin của bạn Lê Hiếu rằng, nhà ngư loại học Đức, Jürgen Schmidt, khảo sát các quần thể lia thia mang đỏ ở Việt Nam (2017) và xác định là Betta siamorientalis qua phân tích DNA. Nhưng chúng tôi không thể tìm ra tài liệu nào liên quan đến sự kiện này.

    Để bổ sung vào thông tin trên, chúng tôi tìm kiếm những nguồn liên quan đến tên khoa học của cá mang đỏ Việt Nam.

    Nguồn đầu tiên là Betta cf. imbellis “Vietnam Black“ – ein neu er Kampffisch aus Vietnam. – Aqualog News, 88: 14 (Frank Schäfer, 2009).
    https://www.aqualog.de/blog/betta-siamorientalis-ein-huebscher-kampffisch-aus-vietnam/
    https://www.aquariumglaser.de/en/fish-archives/betta_siamorientalis_en/

    [​IMG]

    Hình ảnh cho thấy đó là con lia thia mang đỏ. Phần ghi chú bổ sung nói rằng “loài này được mô tả khoa học vào 2013 dưới tên Betta siamorientalis”.

    Mô tả khoa học mà ông đề cập chính là Betta siamorientalis, a new species of bubble-nest building fighting fish (Teleostei: Osphronemidae) from eastern Thailand (Kowasupat, Panijpan, Ruenwongsa & Jeenthong, 2012). Chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem tài liệu nói gì?

    “Loài cá này được gọi là ‘black imbellis’ với những ai quen thuộc nhờ màu đen trên nắp mang và thân đen nổi bật. Black imbellis có ngoại hình hoàn toàn tương đồng với cá được bắt từ Seam Reap, Cambodia bởi Kühne (2008), người đặt tên cho nó là Betta cf. imbellis, và tương tự với Betta sp. ở làng Priay Khmang bởi LinKe (2009). Schäfer (2009) cũng nhận được một số cá từ Việt Nam và xác định như là Betta cf. stiktos dựa trên những mẫu vật bảo quản của loài này. Tuy nhiên, so sánh sau này với những cá thể hoang dã sống từ địa bàn chuẩn, ông bèn đổi tên thành Betta cf. imbellis và gọi nó là Vietnam black dựa trên sự thiếu vắng vảy ánh kim blue/green trên thân đen”.

    Betta imbellis (lia thia mang xanh) được đánh bắt từ mười ba tỉnh miền nam Thái Lan, một tỉnh ở Malaysia (địa bàn chuẩn), và một tỉnh ở Việt Nam”.

    “Những báo cáo phát hiện về cá ở Cambodia (Kühne, 2008; LinKe, 2009) và Việt Nam (Schäfer, 2009) gợi ý rằng loài hiện đang cư ngụ tại những vùng nhất định ở miền đông Thái Lan qua nhiều vùng ở Cambodia vốn kết nối với miền nam Việt Nam. Tuy nhiên, Betta imbellis vốn rất giống với B. siamorientalis, được phát hiện ở các tỉnh cực nam bán đảo Thái Lan đến vùng thượng của bán đảo Malaysia. Với nỗ lực mô tả sự tương đồng, bằng chứng cổ địa lý (palaeogeographical) được vận dụng ở đây. Vào thời kỳ băng hà gần nhất với mực nước biển hạ thấp, vùng đất phía nam bán đảo Thái Lan được tin là nối liền, cùng hệ thống sông ngòi, với miền đông Thái Lan, miền nam Cambodia và Việt Nam”.

    Lời bàn: Nội dung bản mô tả của Betta siamorientalis ám chỉ mạnh mẽ rằng loài này phân bố từ đông Thái Lan, qua Cambodia đến nam Việt Nam. Nhưng các mẫu vật (holotype và paratypes) dùng trong nghiên cứu đều được thu thập tại Thái Lan và một làng ở Cambodia, không mẫu vật black imbellis (lia thia mang đỏ) nào ở Việt Nam được xét đến. Có hai điều lạ, thứ nhất, trong khi các tác giả kiếm được mẫu vật Betta imbellis (lia thia mang xanh) ở một tỉnh Việt Nam để so sánh mà bỏ qua lia thia mang đỏ vốn cũng rất phổ biến! Thứ nhì, tên khoa học được gắn chữ “siam” nghĩa là “Xiêm” trong khi các tác giả đã biết loài này phân bố ở cả ba nước. Đúng ra phải đặt là Betta Vờ-Cờ-Tờ (Việt-Cam-Thái hay “Vãi Cả Tên”). Về điểm này, người Việt tỏ ra khá dễ thương và có phần ưu ái bạn láng giềng, chẳng hạn “gà tre Thái” thực ra là “Chabo”, gà tre Nhật. Thứ gì mua từ Thái đều kèm chữ Thái vào tuốt luốt, sen Thái, súng Thái, ấu Thái, chó Thái, bất kể nguồn gốc thực sự. Thậm chí cả “hạt dẻ Thái” nữa, vốn từ xứ lạnh, tức Trung Quốc!

    Tóm lại, về mặt chính thức chúng tôi chưa thể chứng minh lia thia mang đỏ là Betta siamorientalis (cho đến khi nào nghiên cứu về cá lia thia Việt Nam của Jürgen Schmidt được dẫn nguồn). Nhưng mọi thông tin đều ám chỉ điều đó một cách mạnh mẽ. Nếu kỹ lưỡng hơn, các bạn có thể gọi là Betta cf. siamorientalis. (Thực ra cá lia thia mang xanh cũng vậy, nếu gọi một cách nghiêm túc, nó là Betta cf. imbellis). Cho đến khi có thông tin mới hơn…
     
    Chỉnh sửa cuối: 24/3/20

Chia sẻ trang này

Xưởng in thùng carton giá rẻ, lấy ngay
Nơi bán chai lọ hũ mỹ phẩm Giá Sốc
Địa chỉ in tem vỡ giá rẻ chỉ 50đ