Liên hệ quảng cáo: anh Nguyễn Long Khánh (mobile: 0907 707 171 - nick: nlkhanh - email: longkhanh1963@gmail.com)
Chi phí niềng răng Zenyum Hà Nội | Cho thuê boc xep hàng hóa | Dịch vụ hút bể phốt hà nội giá rẻ | Trẻ đi ngoài nên ăn gì? | Thuc an giau chat xo tự nhiên | Web https://chothuetaxitai.com/ Hà Nội | Trị trẻ biếng ăn, kén ăn | Cách trị trẻ biếng ăn hiệu quả | Thuê taxi tải Mai Linh Hà Nội rẻ nhất | Mẹo Phân biệt sởi và sốt phát ban thế nào | Đại lý thu mua phế liệu giá cao Hà Nội | Thuc pham tot cho ba bau nên ăn | Axit folic cho bà bầu | Bà bầu nên ăn gì tốt nhất | Bổ sung canxi cho bà bầu đầy đủ | Chuyển nhà sinh viên giá rẻ | Chuyen nha Ha Noi uy tín | học bằng lái xe ô tô giá rẻ | mua phế liệu sắt vụn nhôm đồng | Chợ đồ cũ thanh lý Hà Nội | Xưởng in tem nhãn giá rẻ tại Hà Nội |

Cây bờ nước (marginal plant)

Thảo luận trong 'Bài Viết' bắt đầu bởi vnreddevil, 13/9/18.

  1. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Cây bờ nước

    Thủy thực vật (aquatic plant hay water plant) là những loài thực vật vốn thích nghi để sống trong môi trường nước. Nhìn chung, thủy thực vật được chia thành những loại như sau:

    *Cây toàn thủy (submerged) mọc hoàn toàn trong nước;

    *Cây lá-nổi (floating-leaved) với rễ bám nền, chẳng hạn như súng (water lily) và một số loài thủy sinh khác;

    *Cây nổi (free floating) trôi dạt trên mặt nước, rễ không bám nền, chẳng hạn như các loại bèo;

    *Cây bán thủy (emergent plant) là những loài bám rễ vào nền và vươn lên quá mặt nước;

    Cây bờ nước (marginal plant) là những loài mọc ở ven bờ. Đa số cây bán thủy đều thuộc loại này. Ngoại trừ sen vì nó ở nước sâu. Cây bờ nước bao gồm cả các loại cây đầm lầy (bog plant) tức sống ở môi trường ẩm ướt sát bờ, nhưng không phải là thủy thực vật đích thực, chúng không chịu được mực nước sâu quá 15 cm.

    Trong khi cây toàn thủy rất phổ biến trong giới chơi hồ thủy sinh (plant aquarium), thì cây bờ nước là không thể thiếu trong các hòn non bộ, thủy viên (water garden), và chậu cảnh lộ thiên.

    Ở đây, chúng ta sẽ liệt kê vài cây bờ nước hoặc phổ biến trên thị trường, hoặc có nguồn gốc nội địa.

    *Lá trầu (Echinodorus sp.): xuất xứ từ châu Mỹ, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “lan mỹ”, một số người gọi là “rau mác” và đây là cách gọi sai. Theo quan sát của chúng tôi dựa vào kích thước lá, trên thị trường có vài ba loại lá trầu; chưa kể những loại lá trầu toàn thủy vốn phổ biến trong hồ thủy sinh. Cây sẵn có, dễ trồng, xinh đẹp và có sức sống mạnh mẽ. Dễ nhân giống, từ cành hoa nảy ra những bụi cây con, chỉ cần ngắt và trồng vào nơi khác.

    [​IMG]
    Hồ súng với bụi lá trầu ở hậu cảnh.

    *Rau mác (arrowhead, Sagittaria sarittifolia): cây ruộng nội địa, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “từ cô”. Phân bố rộng, nhưng có lẽ phổ biến ở miền Bắc hơn.

    [​IMG]
    Cây rau mác (hình Lê Hoàng Hải - Cây Cỏ Việt Nam)

    *Trạch tả (water-plantain, Alisma plantago-aquatica): cây ruộng nội địa, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “thủy đề”. Cây được trồng lấy củ để làm thuốc, phân bố ở miền Bắc. Cây trạch tả (water-plantain) có khi bị nhầm với cây mã đề (plantain) vốn là cây mọc cạn; cách gọi “mã đề nước” như một số trang mạng đã đưa lại trùng với tên một loại cây phổ biến ở đồng ruộng miền Nam Ottelia alismoides, vốn là cây lá-nổi.

    [​IMG]
    Cây trạch tả ở Lào Cai (hình Lê Hoàng Hải - Cây Cỏ Việt Nam)

    *Rau mác thon (pickerel weed, Monochoria hastata): cây ruộng nội địa, thuộc họ Lục bình (water hyacinth) Pontederiaceae. Cây mọc nhanh, nảy nhánh mạnh, có thể dùng làm hậu cảnh nhưng nên hạn chế ở một khu vực nhất định, có kiểm soát.

    [​IMG]
    Cây rau mác thon trong hồ súng.

    Các loài cây nội địa cùng chi (genus) nhưng nhỏ hơn bao gồm rau mác bầu (Monochoria ovata) và rau mác bao hay “cỏ lưỡi vịt” (Monochoria vaginalis).

    *Phát tài (lucky bamboo, Dracaena sanderiana): xuất xứ từ Cameroon, châu Phi. Cây thường được nhập từ Trung Quốc hay Đài Loan, nơi nó có tên Phú Quý Trúc富贵竹. Mặc dù tên gọi, nó chẳng có họ hàng gì với tre trúc. Cây sẵn có, dễ trồng, đặc biệt thích hợp với nơi có ánh sáng hạn chế.

    [​IMG]
    Cây phát tài để bàn (nguồn https://cayvahoa.net/y-nghia-cay-phat-tai-trong-trong-nuoc/)

    *Huệ nước (Canna sp.): loài hoa đẹp xuất xứ từ châu Mỹ mà ngày nay chúng ta thấy trồng ở khắp nơi, hầu hết là cây mọc cạn. Nhưng điều mọi người ít biết là có hai loài thủy sinh đích thực Canna flaccidaC. glauca, cũng như các dòng lai của chúng. Huệ nước có thể trồng ở mực nước sâu đến 30 cm tùy dòng. Dường như đến nay huệ nước chưa xuất hiện ở thị trường nội địa, nhưng rất đáng để lưu tâm.

    [​IMG]
    Nguồn https://longwoodgardens.org/plants/longwood-hybrid-aquatic-canna

    *Thủy trúc (umbrella palm, Cyperus alternifolius): xuất xứ từ Madagascar, châu Phi. Thủy trúc là cây đầm lầy, không phải cây thủy sinh đích thực, độ sâu không quá 15 cm. Hầu hết các loài thuộc chi này đều là cây đầm lầy.

    [​IMG]
    Nguồn https://en.wikipedia.org/wiki/Cyperus_alternifolius

    *Kèo nèo (yellow velvetleaf, Limnocharis flava): cây ruộng nội địa, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “cù nèo”. Cây phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và thường được dùng làm gỏi. Là cây đầm lầy, cần nhiều mùn, độ sâu không quá 15 cm.

    [​IMG]
    Kèo nèo ở Botanischen Garten Dresden
     
    Chỉnh sửa cuối: 24/9/18
  2. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Số lượng cây bờ nước nhiều không kể xiết, bài này không liệt kê những loài cây lớn, thân mộc vốn thường thấy ở các vùng sông nước như bình bát, tràm nước, liễu... vì chúng quá khổ so với một thủy viên bình thường. Cây bán thủy (emergent plant) được gạch chân, còn lại hoặc chưa rõ hay là cây đầm lầy (bog plant). Ở đây, chúng tôi ưu tiên liệt kê những loài cây nội địa, kế đến là cây ngoại nhập, và sau cùng là cây ngoại đáng chú ý dẫu chưa xuất hiện ở Việt Nam. Trong thời đại thông tin ngày nay, chúng ta có cơ sở để tin rằng những loài cỏ hoặc cây độc hầu như không có cơ hội được phép nhập khẩu vì chúng có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái bản địa.

    Chúng tôi hy vọng những thông tin ở đây, tuy còn rất sơ lược và nhiều chỗ chưa rõ ràng, là cơ sở để phát triển các thể loại hồ sinh cảnh (vivarium), thủy viên và chậu cảnh lộ thiên với chất liệu nội địa sẵn có.

    *Thủy xương bồ (sweet flag, Acorus calamus): tên đồng nghĩa Acorus verus, Acorus cochinchinensis, còn gọi là bồ bồ; sinh trưởng ở vùng đầm lầy, suối, ao hồ. Được trồng lấy củ làm hương liệu. Loài tương tự cùng chi là thạch xương bồ, thạch ngô công Acorus gramineus (tên đồng nghĩa Acorus macrospadiceus).

    *Ráng đại, ráng biển, rau ráng (water leather fern, Acrostichum aureum): loài dương xỉ lớn mọc hoang theo bờ sông rạch nước lợ ở miền Nam. Chồi, bẹ và lá non của ráng được dùng làm rau ăn.

    *Mái chèo, mái dầm Aglaodorum griffithii: thường mọc dại ven bờ sông, vùng có thủy triều.

    *Trạch tả (water-plantain, Alisma plantago-aquatica): cây ruộng nội địa, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “thủy đề”. Cây được trồng lấy củ để làm thuốc, phân bố ở miền Bắc. Trạch tả (water-plantain) có khi bị nhầm với mã đề (plantain) vốn là cây mọc cạn; cách gọi “mã đề nước” như một số trang mạng đã đưa lại trùng tên với một cây phổ biến ở đồng ruộng miền Nam Ottelia alismoides, vốn là cây lá-nổi.

    *Rau dệu, rệu, diếp bò (Alternanthera sp.): cây mọc bờ ao, đầm; điểm đặc biệt ở chi này là sự không thống nhất về tên khoa học giữa các loài được ghi nhận, kể cả thông tin trên Wikipedia. Những loài bờ nước gồm rau dệu Alternanthera sessilis, dệu bò Alternanthera paronychioides và dệu cuống Alternanthera philoxeroides [Lê Hoàng Hải, Vietnam plants]. Cây thủy sinh ngoại nhập là huyết tâm lan Alternanthera reineckii, cùng các biến thể “Mini”, lá dài “Pink Rosaefolia” và lá tròn “Lilacina”. Những loài cùng chi nhưng không phải cây bờ nước gồm dệu cảnh, dệu tím Alternanthera bettzickiana (tên đồng nghĩa Alternanthera polygonoides), dền nhọn Alternanthera pungens, và dệu đỏ Alternanthera ficoidea (tên đồng nghĩa Alternanthera tenella) [Phạm Thị Bích Đào, ĐHSPHN 2].

    *Sậy núi, sậy trúc (giant reed, Arundo donax): mọc ở một số tỉnh phía Bắc như Lạng Sơn, Hòa Bình và Hà Nam.

    *Cây bông tai (milkweed, Asclepias sp.): có nguồn gốc từ châu Mỹ, thường dùng làm thuốc, hoa đẹp. Những loài bờ nước được ghi nhận gồm Asclepias curassavica [độc], Asclepias incarnata, Asclepias lanceolata, Asclepias longifolia, Asclepias perennisAsclepias rubra. Hiện chưa có thông tin về cây bông tai ngoại nhập.

    *Rau đắng (water hyssop, Bacopa sp.): ngọn ăn được; cây nội địa gồm rau đắng biển, sam trắng Bacopa monnieri và rau đắng bông Bacopa floribunda; cây thủy sinh ngoại nhập là lệ nhi Bacopa caroliniana, còn gọi là móng tay, vảy ốc. Lưu ý đừng nhầm lẫn với các loại rau đắng cạn (Glinus sp.), như trong bài “Còn thương rau đắng mọc sau hè”.

    *Thủy vu (northern calla lily, Calla palustris): cây ngoại nhập, xuất xứ từ khu vực ôn đới bắc bán cầu. Hiện chưa có thông tin về cây thủy vu ngoại nhập.

    *Vị kim đất ẩm (marsh marigold, Caltha palustris): cây ngoại nhập, xuất xứ từ khu vực ôn đới bắc bán cầu, còn gọi là “cúc đầm lầy”. Hiện chưa có thông tin về cây cúc đầm lầy ngoại nhập.

    *Huệ nước (Canna sp.): loài hoa đẹp xuất xứ từ châu Mỹ mà ngày nay chúng ta thấy trồng ở khắp nơi, hầu hết là cây mọc cạn. Nhưng điều mọi người ít biết là có hai loài thủy sinh đích thực Canna flaccidaCanna glauca, cũng như các dòng lai của chúng. Huệ nước có thể trồng ở mực nước sâu đến 30 cm tùy dòng. Hiện chưa có thông tin về cây huệ nước ngoại nhập.

    *Độc cần nước (water hemlock, Cicuta maculata): loài cây đẹp nhưng cực độc, lời khuyên là trồng ở góc xa, khó với tới nhất của thủy viên, phân bố tự nhiên ở Bắc Mỹ, điều nguy hiểm là nó khá giống với một loại củ ăn được, củ cải vàng (parsnip), khả năng nhập khẩu là cực nhỏ trong điều kiện ngày nay.

    *Cói túi (sedge, Carex sp.): một trong những chi thực vật lớn nhất với hơn 1800 loài, kể cả những loại lai tạp, ở ta có khoảng 100 loài. Một số loài cói túi là cây bờ nước được ứng dụng vào trang trí thủy viên. Hiện chưa rõ thông tin về cói túi thủy sinh nội địa, cần khảo sát thêm.

    *Rau má Centella asiatica

    *Môn nước (taro, Colocasia esculenta): cây thuộc họ Ráy (Araceae). Như bất kỳ loại cây lương thực nào, có nhiều giống khoai môn như môn xanh, môn trắng, môn tím, môn tía, môn sáp, môn sen, môn thơm, môn trốn. Khoai sọ và khoai nước cũng là khoai môn, tức củ của cây môn nước. Loài cùng chi nhưng chịu nước kém hơn, tức cây đầm lầy, là môn bạc hà (bạc hà) hay dọc mùng (giant elephant ear, Colocasia gigantea).

    *Mái dầm (Cryptocoryne sp.): thường mọc dại ven bờ nước. Có vài loài nội địa gồm Cryptocoryne ciliata, Cryptocoryne annamica, và Cryptocoryne vietnamensis. Những loài ngoại nhập, kích thước nhỏ trồng hồ thủy sinh gọi là “tiêu thảo”.

    *Thủy trúc (umbrella palm, Cyperus alternifolius): xuất xứ từ Madagascar, châu Phi. Thủy trúc là cây đầm lầy, không phải cây thủy sinh đích thực, độ sâu không quá 15 cm. Hầu hết các loài thuộc chi này đều là cây đầm lầy.

    *Phát tài (lucky bamboo, Dracaena sanderiana): xuất xứ từ Cameroon, châu Phi. Cây thường được nhập từ Trung Quốc hay Đài Loan, nơi nó có tên Phú Quý Trúc富贵竹. Mặc dù tên gọi, nó chẳng có họ hàng gì với tre hoặc trúc. Cây sẵn có, dễ trồng, đặc biệt thích hợp với nơi có ánh sáng hạn chế.

    *Lá trầu (Echinodorus sp.): xuất xứ từ châu Mỹ, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “lan mỹ”, một số người gọi là “rau mác” và đây là cách gọi sai. Theo quan sát của chúng tôi dựa vào kích thước lá, trên thị trường có vài ba loại lá trầu; chưa kể những loại lá trầu toàn thủy vốn phổ biến trong hồ thủy sinh. Cây sẵn có, dễ trồng, xinh đẹp và có sức sống mạnh mẽ. Dễ nhân giống, từ cành hoa nảy ra những bụi cây con, chỉ cần ngắt và trồng vào nơi khác.

    *Cỏ năng (Eleocharis sp.): hai loài nổi tiếng là cỏ năng ống (water chestnut, Eleocharis dulcis) mà củ ăn được (củ năng, thử mua củ này về ngâm nước cho nảy mầm thành bụi?) và cỏ năng kim Eleocharis ochrostachys vốn là món khoái khẩu của sếu đầu đỏ ở Tràm Chim; những loài nội địa khác được ghi nhận gồm cỏ năng gối Eleocharis geniculata, cỏ năng chỉ Eleocharis parvula (vùng nước mặn, Cà Mau), và cỏ năng xoắn Eleocharis spiralis (vùng có thủy triều); những loài lưu hành trong giới thủy sinh được gọi là “ngưu mao chiên”.

    *Rau ngổ Enydra fluctuans

    *Trầu bà (golden pothos, Epipremnum aureum): loại bình thường có xu hướng bò mạnh, phiến lá rộng đến 30 cm hay hơn nếu gặp điều kiện thuận lợi, có người gọi là “trầu ông” nhưng thực ra vẫn là nó thôi, những biến thể khác mà chúng tôi thấy ngoài thị trường nội địa là trầu bà nhỏ (Pears and Jade Pothos) lá nhỏ, mọc chậm; trầu bà sọc (Marble Queen Pothos) sọc nhỏ, nhuyễn đặc trưng (thay vì loang lổ) và trầu bà thủy sinh (Neon Pothos) mà lá không loang lổ, ít bò, rễ nhỏ và rậm. Trầu bà thủy sinh (còn gọi là trầu bà vàng, trầu bà thái) hiện được ứng dụng phổ biến trong thể loại hồ mở (open aquarium) nơi mà nó được bố trí phía trên mặt hồ, rễ tỏa xuống nước tạo ra hiệu ứng “rừng rậm” khi quan sát từ mặt bên.

    *Cỏ tháp bút (horsetail, Equisetum arvense): mọc nơi đất ẩm, ven suối vùng núi cao ở Sapa, phổ biến hơn ở miền Bắc là cỏ tháp bút yếu Equisetum debile, cỏ tháp bút tán Equisetum diffusum.

    *Cỏ dùi trống (pipewort, Eriocaulon sp.): còn gọi là cốc tinh thảo, thực ra là một loại cói, những loài nội địa được ghi nhận gồm Eriocaulon echinulatum, Eriocaulon hayatanum ở hồ Dầu Tiếng, Tây Ninh và Eriocaulon merrillii ở Mù Cang Chảy, Yên Bái.

    *Cỏ ngọt (reed sweet-grass, Glyceria maxima): được ghi nhận ở các vùng đất ngập nước. Đừng nhầm với cây cỏ ngọt (candyleaf Stevia rebaudiana).

    *Hoa phù dung, dâm bụt (mallow, Hibiscus sp.): là loài hoa xinh đẹp và phổ biến trên toàn thế giới. Một số loài dâm bụt bờ nước được ghi nhận như sau: Hibiscus coccineus (water hibiscus), Hibiscus lasiocarpus (wooly mallow), Hibiscus militaris (syn. H. laevis) (halberd-leafed marsh mallow), Hibiscus moscheutos (swamp mallow), Hibiscus palustris (water hibiscus). Hoa dâm bụt là điểm nhấn tuyệt vời cho các thủy viên.

    *Tuyết hoa thảo (featherfoil, Hottonia palustris): cây ngoại nhập, xuất xứ từ châu Âu và Tây Á, phổ biến trong giới thủy sinh.

    *Giấp cá (fish mint, Houttuynia cordata): có nhiều biến thể màu sắc khác nhau.

    *Rau má (water pennywort, Hydrocotyle sp.): thông tin trên mạng về các loài thuộc chi này khá nhiễu loạn, thậm chí nhầm lẫn bởi một thực tế rằng vài loài hoàn toàn giống nhau, chỉ phân biệt qua hoa; những loài nội địa gồm rau má núi, rau má lá to Hydrocotyle nepalensis, rau má hương, rau má mỡ Hydrocotyle sibthorpioides (tên đồng nghĩa Hydrocotyle rotundifolia); những loài thủy sinh ngoại nhập gồm rau má lá sen phiến lớn (rau má Nhật) Hydrocotyle bonariensis, rau má lá sen phiến nhỏ (rau má Thái) Hydrocotyle vulgaris (ĐHCT, 2012), rau má dù, sen dù lùn Hydrocotyle verticillata (vi.Wikipedia) (có thể có sự trùng lặp ở đây, bởi H. verticillata từng được coi là một phân loài của H. vulgaris), rau má vỉ Hydrocotyle tripartita. Lưu ý phân biệt với rau má thường Centella asiatica vốn là cây đầm lầy.

    *Thủy cúc (water wisteria, Hygrophila difformis): cây thủy sinh ngoại nhập, xuất xứ từ Ấn Độ. Các loài cùng chi gồm: cây liễu Hygrophila corymbosa với nhiều biến thể khác nhau, cây hoang nội địa: đình lịch lá tròn Hygrophila erectađình lịch lá dẹp Hygrophila salicifolia.

    *Móng tay (touch-me-not, Impatiens sp.): vốn là loại hoa cảnh phổ biến, có nhiều loài hoa móng tay nội địa, cần tìm hiểu thêm về cây móng tay bờ nước.

    *Rau muống Ipomoea aquatica

    *Cỏ bấc (Juncus sp.): cây nội địa gồm “cỏ bấc đèn” Juncus effusus ở Sapa và Đà Lạt, và “hến trơn” Juncus prismatocarpus ở suối Đà Lạt.

    *Móp gai (Lasia spinosa): còn gọi là chóc gai, lá non ăn được.

    *Kèo nèo (yellow velvetleaf, Limnocharis flava): cây ruộng nội địa, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “cù nèo”. Cây phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và thường được dùng làm gỏi. Là cây đầm lầy, cần nhiều mùn, độ sâu không quá 15 cm.

    *Ngò ôm Limnophila aromatica: thậm chí được bán như cây thủy sinh.

    *Bán biên liên (Lobelia chinensis): còn gọi là lỗ bình tàu, cây ruộng ở miền Bắc. Có một số loại lỗ bình đầm lầy ở Bắc Mỹ, thậm chí cây thủy sinh (water lobelia, Lobelia dortmanna), những cây này chưa được nhập.

    *Rau dừa nước (water primrose, Ludwigia adscendens): cây xâm lấn có nguồn gốc Bắc Mỹ; làm thuốc và ăn được. Các loài cùng chi có rau mương Ludwigia octovalvis và nhiều cây thủy sinh ngoại nhập có tên diệp tài hồng.

    *Kim tiền thảo (creeping jenny, Lysimachia nummularia): cây thủy sinh ngoại nhập, xuất xứ từ châu Âu; lưu ý phân biệt với cây kim tiền thảo金钱草 đích thực Lysimachia christinae.

    *Cỏ bợ (water clover, Marsilea quadrifolia)

    *Bạc hà, húng (mint, Mentha sp.): cây gia vị phổ biến, những loài bờ nước gồm water mint, Mentha aquatica (húng lủi nhiều khả năng là mojito mint, không phải watermint như một số nguồn đưa, nếu úng nước sẽ chết), húng cây (wild mint, Mentha arvensis) và bạc hà hăng (pennyroyal, Mentha pulegium)(cây độc nhẹ, cảnh báo không dùng làm gia vị).

    *Rau mác thon (pickerel weed, Monochoria hastata): cây ruộng nội địa, thuộc họ Lục bình (water hyacinth) Pontederiaceae. Cây mọc nhanh, nảy nhánh mạnh, có thể dùng làm hậu cảnh nhưng nên hạn chế ở một khu vực nhất định, có kiểm soát. Các loài cây nội địa cùng chi (genus) nhưng nhỏ hơn bao gồm rau mác bầu (Monochoria ovata) và rau mác bao hay “cỏ lưỡi vịt” (Monochoria vaginalis).

    *Thủy lưu ly (water forget-me-not, Myosotis scorpioides): loài hoa đầm lầy “xin đừng quên tôi” gắn liền với một câu chuyện lãng mạn, còn gọi là cỏ bò cạp, xuất xứ từ các vùng ôn đới ở bắc bán cầu, có nhiều biến thể màu sắc khác nhau.

    *Rong xương cá (parrot ’s feather Myriophyllum aquaticum)

    *Rau nhút (water mimosa, Neptunia oleracea)

    *Cần nước, cần ta (water parsley, Oenanthe javanica): một loại rau, gia vị nội địa phổ biến (thử mua cả cây về tự trồng). Nhiều loài khác cùng chi đều cực độc.

    *Rau vi (Osmunda japonica): mọc ở rừng núi cao các tỉnh Lào Cai (Sapa), Lạng Sơn (Mẫu Sơn).

    *Xả căn (star fruit, Penthorum chinense): phân bố nơi kẽ đá ẩm ướt, dọc lưu vực sông Hồng.

    *Kim tâm, cúc móng ngựa (Japanese butter burr, Petasites japonicus): lá to, mọc ven bờ nước trong rừng ẩm núi cao miền Bắc.

    *Sậy trổ (reed canary grass, Phalaris arundinacea)

    *Sậy (common reed, Phragmites autralis)

    *Thủy hồng (marsh cinquefoil, Potentilla palustris): cây hồng đầm lầy xuất xứ từ Bắc Mỹ, hy vọng nó sẽ được nhập trong tương lai.

    *Nhã hoa (Pratia nummularia): mọc bò, dễ nhận diện qua những quả mọng màu tím, cây thường gặp ở vùng núi như Đà Lạt, Bà Nà, Sapa.

    *Mao lương vàng (creeping buttercup, Ranunculus repens): phân bố ở vùng ôn đới bắc bán cầu, cực độc nên khó có khả năng được nhập.

    *Cải xoong (watercress, Rorippa nasturtium-aquaticum): cây rau phổ biến, được du nhập từ châu Âu.

    *Luân thảo (Rotala sp.): giới thủy sinh gọi là vảy ốc, các loài nội địa được ghi nhận gồm Rotala indica, Rotala rotundifolia (Sapa, Đà Lạt) và Rotala wallichii (hồ Cần Nôm, Dầu Tiếng, Bình Dương).

    *Thạch thảo tím, quả nổ thân cao (Ruellia brittoniana): hoa cảnh ngoại nhập.

    *Rau mác (arrowhead, Sagittaria sarittifolia): cây ruộng nội địa, thuộc họ Trạch tả Alismataceae, còn gọi là “từ cô”. Phân bố rộng, nhưng có lẽ phổ biến ở miền Bắc hơn.

    *Nắp ấm (pitcher plant, Sarracenia sp.): cây ăn thịt ngoại nhập, xuất xứ từ Bắc Mỹ.

    *Trầu nước, hàm ếch (Chinese lizard tail, Saururus chinensis): mọc dại ở ruộng trũng, nơi ẩm ướt và ven suối, thường gặp ở các tỉnh phía Bắc.

    *Lác hến, đưng (rush, Scirpus sp.): những loài được ghi nhận gồm lác hến Scirpus grossus, hến biển Scirpus littoralis, hoàng thảo núi Scirpus lushanensis, hoàng thảo mũi Scirpus mucronatus, hoàng thảo năng Scirpus subcapitatus.

    *Điên điển, điền thanh (lobster claw, Sesbania sp.): rất đa dạng, các loài được ghi nhận gồm điên điển Sesbania aculeata, điên điển gai Sesbania bispinosa, điên điển sợi Sesbania cannabina, điên điển Sesbania javanica, điên điển quả to Sesbania macrocarpa, điên điển phao Sesbania paludosa, điền thanh Sesbania rostrata, điên điển tơ Sesbania sericea, điền thanh bụi Sesbania sesban, điên điển đẹp Sesbania speciosa.

    *Bồng bồng (Sphenoclea sp.): miền Bắc gọi là cỏ xà bông; đừng nhầm với cây “nam tỳ bà diệp”, “cây lá hen” (Calotropis gigantea) hay cây “tỳ bà diệp” (Eryobotrya japonica).

    *Hoắc hương đầm (marsh betony, Stachys palustris): cây ngoại nhập, xuất xứ từ Bắc Mỹ.

    *Cần câu, huỳnh tinh nước (alligator flag, Thalia geniculata): cây cảnh ngoại nhập, xuất xứ từ vùng nhiệt đới châu Mỹ.

    *Bồn bồn (cattail, Typha sp.): còn gọi là cỏ nến, hương bồ, mọc nhiều ở các vùng nước ít phèn ở miền Tây; cây được trồng làm thuốc, rễ non dùng làm thức ăn (gỏi bồn bồn).

    *Cỏ xuyến chi (golden water zinnia, Wedelia trilobata): cây ngoại nhập, xuất xứ từ vùng nhiệt đới châu Mỹ.

    *Cỏ vàng, hoàng đầu (yellow-eyed grass, Xyris sp.): có khoảng mười loài nội địa, chẳng hạn Xyris indica, Xyris complanata ở núi Cậu, Dầu Tiếng, Xyris capensis ở Đà Lạt, Xyris grandis ở Bạch Mã.

    *Vân môn (calla lily, Zantedeschia sp.): cây ngoại nhập, xuất xứ từ vùng nhiệt đới châu Phi.

    *Phong huệ (rain lily, Zephyranthes sp.): loài ngoại nhập, xuất xứ từ tây bán cầu, có hai loài thủy sinh là phong huệ trắng Zephyranthes candida, và phong huệ hồng Zephyranthes grandiflora.

    *Lúa miêu, niễng (wild rice, Zizania latifolia): cây ngoại nhập, có nguồn gốc Bắc Á, được trồng làm rau ăn. Cây bị nhiễm một loại nấm nên gốc phì đại thành củ, không bao giờ ra hạt và trồng bằng phương pháp cắt cắm. Lúa miêu dưới danh nghĩa một loài cây lương thực cho hạt đã biến mất từ lâu ở Trung Quốc và các nước lân cận, có lẽ từ khi bị nhiễm nấm. Cây cho hạt rất hiếm. Biến thể nhiễm nấm của nó (niễng) được trồng phổ biến ở miền Bắc. Cây cũng xuất hiện tại Sóc Trăng vào 2017 và được khuyến cáo không nên trồng vì có khả năng lai tạp, tuy rất khó, với lúa thường Oryza sativa, làm ảnh hưởng đến nguồn gien bản địa. Điều này hẳn vô lý vì cây niễng không trổ bông, nguy cơ khả dĩ duy nhất là nhiễm nấm nhưng điều này được chứng tỏ là không xảy ra ở nhiều nơi khác. Những loài tương tự trong ứng dụng thủy viên, là lúa nước, lúa trời Oryza rufipogonOryza nivara vốn phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long.


    ========================


    Ghi chú

    *Một số loại cây loại khác có thể trồng trong thủy viên:

    Cây lá-nổi (floating-leaved)
    +Thủy quỳnh (water poppy, Hydrocleys nymphoides)
    +Diệp tài hồng lá nổi (mosaic plant, Ludwigia sedoides): cây ngoại nhập, trông giống hệt ấu, để phân biệt: ấu có hai loại lá: nổi và chìm, cuống lá thường phình to để giúp cây nổi khi có củ.
    +Súng (water lily, Nymphaeaceae)
    +Mã đề nước (duck-lettuce, Ottelia alismoides)
    +Ấu (water chestnut, Trapa sp.)

    Cây nổi (free-floating)
    +Bèo hoa dâu (Azolla sp.)
    +Cần trôi lá nhỏ (water sprite, Ceratopteris thalictroides)
    +Lục bình (water hyacinth, Eichhornia crassipes)
    +Cỏ chân vịt, cỏ thằn lằn (watergrass Hygroryza aristata)
    +Bèo tấm (duck weed, Lemna minor)
    +Bèo nhật (Amazon frogbit, Limnobium laevigatum)
    +Bèo cái (water lettuce, Pistia stratiotes)
    +Bèo tai chuột (Salvinia sp.)

    *Loại hồ mô phỏng sinh cảnh bờ nước gọi là hồ bờ nước (riparium).

    *Sau khi duyệt qua danh sách cây bờ nước, có những loại vốn nằm sẵn trong “bếp”, các bạn có thể lấy ra ươm và trồng, chẳng hạn: rau đắng biển Bacopa monnieri, rau má Centella asiatica, củ năng Eleocharis dulcis, rau ngổ Enydra fluctuans, giấp cá Houttuynia cordata, rau muống Ipomoea aquatica, ngò ôm Limnophila aromatica, húng cây (bạc hà nam) Mentha arvensis, rau nhút Neptunia oleracea, cần nước Oenanthe javanica, cải xoong Rorippa nasturtium-aquaticum.

    *Về thuật ngữ “bán cạn”: Một số người áp dụng từ này cho paludarium để phân biệt với hồ thủy cảnh (aquarium). Paludarium là một loại sinh vực (vivarium) bắt nguồn từ tiếng Latin “palus” nghĩa là đầm lầy và “-arium” nghĩa là hồ, xin đính chính lại là “hồ đầm lầy”, một sinh cảnh đặc trưng. Paludarium theo nghĩa rộng còn mô phỏng rừng mưa và các vùng ngập nước. Thuật ngữ “cây bán cạn” cũng được áp dụng để gọi emergent plant (hay semi-aquatic plant), loại cây rễ bám đất và mọc quá mặt nước, trường hợp này xin đính chính lại là “cây bán thủy”. Vậy hồ bán cạn là gì? Xuất phát từ hồ cạn (terrestrial tank) vốn cung cấp môi trường đất khô cho các loài lưỡng cư và bò sát (đúng ra là hồ bò sát, đừng nhầm với terrarium tức “biệt viên” vốn tập trung vào thực vật), đương nhiên là vẫn phải cung cấp nước dưới dạng chén hay hồ nước, có khi chiếm đến một-nửa (half-and-half) tùy nhu cầu về độ ẩm của loài được nuôi. Trong trường hợp này, chúng ta có thể gọi là hồ “bán cạn”, tức là một thể loại hồ cạn.

    *Kim ngân (money tree, Pachira aquatica): cây thân mộc, ngoại nhập, nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ, thường được bán dưới tên “phát tài thụ”發財樹. Cùng chi bông gòn nên lá rất giống. Dẫu tên gọi như vậy, nó chỉ chịu ẩm chứ không phải cây thủy sinh hay cây đầm lầy, tưới quá nhiều nước sẽ chết.


    ========================


    https://sites.google.com/site/raurungvietnam/home
    http://vietnamplants.blogspot.com/
    http://www.nucetech.com/2016/07/loai-cay-nao-tay-sach-nuoc-o-nhiem.html


    ========================


    Sinh vực (Vivarium)
    Hồ thủy cảnh (Aquarium)
    Biệt viên (Terrarium)
    Hồ đầm lầy (Paludarium)
    Đại dương cung (Oceanarium)
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/2/19
  3. thuctoan

    thuctoan Active Member

    cây môn có tính là cây bờ nước ko anh
     
  4. vnreddevil

    vnreddevil Moderator

    Có chứ bạn, cây môn được liệt kê ở trên: *Môn nước (taro, Colocasia esculenta): cây thuộc họ Ráy (Araceae). Như bất kỳ loại cây lương thực nào, có nhiều giống khoai môn như môn xanh, môn trắng, môn tím, môn tía, môn sáp, môn sen, môn thơm, môn trốn. Khoai sọ và khoai nước cũng là khoai môn, tức củ của cây môn nước. Loài cùng chi nhưng chịu nước kém hơn, tức cây đầm lầy, là môn bạc hà (bạc hà) hay dọc mùng (giant elephant ear, Colocasia gigantea).
     

Chia sẻ trang này

Xưởng in thùng carton giá rẻ, lấy ngay
Nơi bán chai lọ hũ mỹ phẩm Giá Sốc
Địa chỉ in tem vỡ giá rẻ chỉ 50đ
Địa chỉ In lịch tết 2021 giá rẻ, uy tín nhất Hà Nội